câu bị động trong tiếng pháp
Câu chủ động: S + Vpast tense + O. Câu bị động: S + was/were + VPII + (by O). Ví dụ: He bought a new T-shirt yesterday. (Hôm qua anh ấy đã mua một chiếc áo phông mới.) => A new T-shirt was bought yesterday. (Một chiếc áo phông mới được mua ngày hôm qua.) 4. Cấu trúc bị động của thì tương
Nhằm giúp bạn củng cố kiến thức về câu so sánh So sánh (Comparisons) đồ vật với đồ vật cũng như người với người là dạng câu phổ biến trong ngữ pháp Tiếng Anh.
Luyện tập thêm các bài tập về câu bị động có giảng viên chữa tại đây: https://bit.ly/3wOkjUABộ sách chuyên biệt dành cho người
I. ĐỌC HIỂU Đọc đoạn trích: Nếu bạn có sự chuẩn bị thì đó là phiêu lưu khám phá. Nếu không, đó là chuyến đi mạo hiểm. Với một số người, cuộc sống là một hành trình. Trong khi với người khác, cuộc sống là một đường đua. Dù cuộc sống là hành trình hay đường đua thì nhiệm vụ của bạn vẫn là
Cùng với Học Tiếng Pháp Cap France tìm hiểu về thể bị động được dùng như thế nào trong Tiếng Pháp qua bài viết sau nha! 1. Cách thành lập thể bị động trong tiếng Pháp: S + être (được chia) + động tính từ quá khứ + (par + chủ thể của hành động) Ex: La télévision a été
Câu bị động (Passive voice) là điểm ngữ pháp quen thuộc trong các kỳ thi tiếng Anh. Để nắm chắc cấu trúc này, hãy cùng ELSA Speak ôn luyện qua 100 bài tập câu bị động dưới đây nhé. Lý thuyết câu bị động trong tiếng Anh
Vay Tiền Nhanh Iphone. Nội Dung Chính1 Cách dùng câu bị động2 Cấu trúc câu bị động3 Các bước chuyển đổi từ câu chủ động sang câu bị Điều kiện để chuyển câu chủ động thành câu bị động4 Bài tập câu bị động trong tiếng AnhCâu bị động hay thể bị động là 1 trong những chủ điểm ngữ pháp quan trọng trong tiếng Anh. Bạn sẽ không ít lần phải sử dụng đến câu bị động trong văn viết, vì vậy không nên bỏ qua nếu bạn muốn đạt điểm số cao. Hãy cùng IGE IELTS tìm hiểu về cấu trúc này dùng câu bị động➤ Câu bị động được sử dụng khi chúng ta muốn nhấn mạnh vào bản thân một hành động, chủ thể thực hiện hành động hay tác nhân gây ra hành động đó không quá quan trọng. Flowers are watered everyday. Những bông hoa được tưới nước hàng ngày.Trong ví dụ trên, người nói muốn đưa thông tin rằng những bông hoa được tuới nước hàng ngày. Ai “tưới nước” cho những bông hoa có thể không quan trọng, không cần nhắc tới hoặc không ai có thông tin về người đó.➤ Thể bị động được dùng khi ta muốn tỏ ra lịch sự hơn trong một số tình Don’t worry too much! The mistake was already made. All we can do now is to fix it. Đừng lo lắng quá nhiều. Lỗi sai thì đã xảy ra rồi. Tất cả những gì chúng can có thể làm bây giờ là sửa nó. Câu bị động “The mistake was already made.” này nhấn mạnh vào trạng thái rằng có 1 lỗi hoặc có sự nhầm lẫn xảy ra rồi, chứ không quan trọng là ai gây ra lỗi này. Đây là một cách nói lịch sự, không đề cập đến ai hay cái gì đã gây ra sự việc để làm giảm tính nghiêm trọng của sự trúc câu bị độngCâu chủ độngS1VOCâu bị độngS2TO BEPIIChủ ngữ + dạng của động từ “to be” + Động từ ở dạng phân từ 2Câu chủ động ở dạng thì nào, chúng ta chia động từ “to be” theo đúng dạng thì đó. Chúng ta vẫn đảm bảo nguyên tắc chủ ngữ số nhiều, động từ TO BE được chia ở dạng số nhiều…Công thức chuyển câu chủ động sang câu bị động các bạn học theo bảng dưới đây nhé!ThìChủ độngBị độngHiện tại đơnS + Vs/es + OS + am/is/are + PIIHiện tại tiếp diễnS + am/is/are + V-ing + OS + am/is/are + being + PIIHiện tại hoàn thànhS + have/has + PII + OS + have/has + been + PIIQuá khứ đơnS + Ved/Ps + OS + was/were + PIIQuá khứ tiếp diễnS + was/were + V-ing + OS + was/were + being + PIIQuá khứ hoàn thànhS + had + PII + OS + had + been + PIITương lai đơnS + will + V-infi + OS + will + be + PIITương lai hoàn thànhS + will + have + PII + OS + will + have + been + PIITương lai gầnS + am/is/are going to + V-infi + OS + am/is/are going to + be + PIIĐộng từ khuyết thiếuS + ĐTKT + V-infi + OS + ĐTKT + be + planted a tree in the garden. Họ đã trồng một cái cây ở trong vườn.S1 V O➤ A tree was planted in the garden by them. Một cái cây được trồng ở trong vườn bởi họ. Lưu ý “By them” có thể bỏ đi trong be V PIINếu là loại động từ có 2 tân ngữ, muốn nhấn mạnh vào tân ngữ nào người ta đưa tân ngữ đó lên làm chủ ngữ nhưng thông thường chủ ngữ hợp lý của câu bị động là tân ngữ gián I gave him a book = I gave a book to him = He was given a book by me.Các bước chuyển đổi từ câu chủ động sang câu bị đôngĐiều kiện để chuyển câu chủ động thành câu bị độngCâu chủ động phải xác lập là có tân ngữ objectCâu chủ động đó phải có ngoại động từ transitive verbsBước 1 Xác định tân ngữ trong câu chủ động, chuyển thành chủ ngữ câu bị 2 Xác định thì tense trong câu chủ động rồi chuyển động từ về thể bị động như hướng dẫn ở 3 Chuyển đổi chủ ngữ trong câu chủ động thành tân ngữ thêm “by” phía trước. Những chủ ngữ không xác định chúng ta có thể bỏ qua như by them, by people….cách chuyển câu chủ động thành câu bị father waters this flower every morning.➤This flower is watered by my father every invited Fiona to his birthday party last night.➤ Fiona was invented to John’s birthday party last monthHer mother is preparing the dinner in the kitchen.➤ The dinner is being prepared by her mother in the tập câu bị động trong tiếng AnhĐề bài Change the following sentences from active into passive form.Đổi các câu dưới đây từ thể chủ động sang thể bị động 1 – Somebody has taken my – The teacher returned our written work to – She finished her report yesterday – The mad dog bit the little – The police have arrested five – The doctor ordered him to take a long – Lightning struck the – They didn’t allow Tom to take these books – The teacher won’t correct exercises – Marry has operated on Tom since 10 o’ – People speak English in almost every corner of the – They didn’t look after the children – Nobody swept this street last – People drink a great deal of tea in – The boys broke the window and took away some – People spend a lot of money on advertising – They may use this room for – The teacher is going to tell a – Marry is cutting the cake with a sharp – She used to pull my hat over my án bài luyện tập 1 – My briefcase has been – Our written work was returned to us by the – Her report was finished yesterday – The little boy was bitten by the mad – Five suspects have been arrested by the – He was ordered to take a long rest by the – The house was struck by – Tom wasn’t allowed to take these books – Exercises won’t be corrected by the teacher – Tom has been operated by Mary since 10 o’ – English is spoken in almost every corner of the – The children weren’t properly looked – This street wasn’t swept last – A great deal of tea is drunk in – The window was broken and some pictures were taken away by the – A lot of money is spent on advertising – This room may be used for – A story is going to be told by the – The cake is being cut with a sharp knife by – My hat used to be pulled over my là đã đi qua hết cách dùng, cấu trúc, cách thành lập câu bị động và cả phần bài tập luyện tập nữa rồi. Các bạn thấy có dễ hiểu và tự tin dùng câu bị động thường xuyên sau khi học xong bài này không nhỉ? ^^Thông tin các khóa học tiếng Anh, luyện thi IELTS của IGE IELTS
Câu bị động Passive voice là một trong những loại câu quan trọng trong Tiếng Anh. Để có thể sử dụng thành thạo, bạn cần phải nắm vững được cấu trúc và cách sử dụng của loại câu này. Do đó, bạn hãy xem ngay bài viết chia sẻ kiến thức học Tiếng Anh này để tìm hiểu về cấu trúc ngữ pháp của câu bị động nhé! 1. Câu bị động là gì? Câu bị động là loại câu Tiếng Anh được dùng để nhấn mạnh đến đối tượng chịu tác động bởi hành động. Ở mỗi thì, câu bị động sẽ có cấu trúc khác nhau. Ngoài ra, trong câu bị động cũng sẽ xuất hiện động từ to be’ am is are, was, were, etc. + V2/ed. Ví dụ The director chose a man in the final round. Đạo diễn đã chọn một người đàn ông ở vòng cuối cùng. → câu chủ động A man was chosen by the director in the final round. Một người đàn ông được đạo diễn chọn vào vòng cuối cùng. → câu bị động → Trong câu đầu tiên the director’ đạo diễn làm chủ ngữ thực hiện hành động chose’ chọn. Ở câu thứ hai, tân ngữ ở câu thứ nhất a man’ một người đàn ông trở thành chủ ngữ của câu bị động was chosen’ được chọn. Chủ ngữ của câu chủ động the director’ được gọi là tác nhân gây ra hành động, và được giới thiệu bằng giới từ by’ ở câu bị động, thông thường chủ thể gây ra hành động không cần nhắc đến trong câu bị động A man was chosen in the final round. Câu bị động trong Tiếng Anh >>>> Đừng Bỏ Qua Rút gọn câu Tiếng Anh với các trợ động từ và động từ khuyết thiếu 2. Cấu trúc câu bị động trong các thì Cấu trúc chung To be + trong đó có thể là có quy tắc V-ed hoặc bất quy tắc Thì Cấu trúc TO BE + Ví dụ + by Sb/ O present simple thì hiện tại đơn am are is + past participle Am I allowed to say? Tôi có được phép nói không? present continuous thì tại hoàn thành am are is + being + past participle The law is not being enforced anymore. Bộ luật không được thực thi nữa. past simple thì quá khứ đơn was were + past participle The charity organization was not donated any money. Tổ chức từ thiện đã không được quyên góp bất kỳ số tiền nào. past continuous thì quá khứ tiếp diễn was were + being + past participle It was being prepared meticulously. Nó đã được chuẩn bị một cách tỉ mỉ. present perfect simple thì hiện tại hoàn thành have has + been + past participle The book has been written for 2 months. Cuốn sách này đã được viết 2 tháng rồi. past perfect simple thì quá khứ hoàn thành had + been + past participle They had been shifted to another agency. Họ đã được chuyển sang một cơ quan khác. modal simple động từ khuyết thiếu can will might + be + past participle The engine might be dismantled. Cái động cơ có thể đã bị tháo dỡ. modal continuous động từ khuyết thiếu ở dạng tiếp diễn could may must + be being + past participle She may be being stuck on the road. Cô ấy có thể đang bị mắc kẹt trên đường. modal perfect simple động từ khuyết thiếu ở dạng hoàn thành could must + have been + past participle The photo could have been taken by Tim. Bức tranh có thể đã được chụp bởi Tim. >>>> Tìm Hiểu Chi Tiết 12 thì trong Tiếng Anh Cách dùng các thì và dấu hiệu nhận biết 3. Bài tập câu bị động Practice 1. Put a tick ✔ if the verbs in bold are correct, if not, rewrite them correctly. Đánh dấu ✔ nếu các động từ in đậm là đáp án đúng và sửa lại nếu chưa đúng. Could you tell me when your license was been issued? When the prize was announced, I burst into tears. Has your decision to resign confirmed by the office? The light bulb invented in 1802 by Thomas Edison. The child protection policy has introduced in Congress yesterday but has not come into effect. By the time we get there, the problem should have been figured out. Vietnam was be invaded by American imperialism in 1954. After be sacked, I wasn’t able to afford my house rate. We arrived and were instructing by a waiter. Xem đáp án was issued Câu bị động của thì QKĐ cấu trúc là was/were + Vp2. Dó đó, ta bỏ been. ✔ Câu bị động của thì QKĐ. Has … been confirmed Câu bị động của thì HTHT cấu trúc là has/ have + been + Vp2. Do đó, ta thêm been. was invented Câu bị động của thì QKĐ cấu trúc là was/ were + Vp2. Do đó, ta thêm was. has been introduced Câu bị động của thì HTHT cấu trúc là has/ have + been + Vp2. Do đó, ta thêm been. ✔ Có cụm từ by the time, nên ta dùng câu bị động của động từ khuyết thiếu, should have been + Vp2. was invaded Câu bị động của thì QKĐ cấu trúc là was/were + Vp2. Do đó, ta bỏ be. being sacked Sau After, phải cộng với V-ing. Do đó, ta có being. were instructed Câu bị động của thì QKĐ cấu trúc là was/ were + Vp2. Do đó, ta có instructed. >>>> Có Thể Bạn Quan Tâm Câu trực tiếp gián tiếp trong Tiếng Anh Reported speech Vậy là chúng ta đã điểm qua một chủ điểm rất quan trọng trong Tiếng Anh là câu bị động. Mong rằng những kiến thức trên cùng với những bài tập do Jaxtina tổng hợp sẽ giúp bạn trong việc học cấu trúc và giao tiếp thường ngày. >>>> Khám Phá Ngay Trật Tự Của Các Từ Trong Câu – Phần 1 “Câu mệnh lệnh” trong tiếng Anh The imperative
Trong tiếng Trung, cấu trúc ngữ pháp câu bị động sẽ đi với từ “被 /bèi/” , chúng ta hãy cùng xem qua cách sử dụng cấu trúc ngữ pháp này như thế nào nhé! 1. Khái niệm2. Khi không cần nhấn mạnh chủ thể của hành động, tân ngữ của chữ “被 /bèi/” có thể lược bỏ3. Trong văn nói, thông thường sẽ dùng các giới từ “让 [jiào]、叫 [ràng]、给 [gěi]” để thay thế cho chữ “被 [bèi]”4. Phó từ phủ định hoặc động từ năng nguyện phải đặt phía trước chữ “被 [bèi] 让、叫”, không được đặt phía trước động từ 1. Khái niệm Câu chữ “被 /bèi/” là câu vị ngữ động từ với giới từ “被 /bèi/” kết hợp với các từ khác làm trạng ngữ, biểu thị ý nghĩa bị động. Tùy theo ngữ cảnh, chúng ta có thể dịch thành “bị” hoặc “được”. Cấu trúc của câu chữ “被 /bèi/” như sau Chủ ngữ + 被 叫、 让 + Tân ngữ + Động từ + Các thành phần khác – 我的钱包被小偷偷走了。 /Wǒ de qiánbāo bèi xiǎotōu tōu zǒu le./ Bóp tiền của tôi bị trộm lấy mất rồi. – 我的机车叫凯特骑去了。 /Wǒ de jīchē jiào Kǎitè qí qùle./ Xe máy của tôi bị Kate lái đi rồi. – 我的眼镜让弟弟摔坏了。 /Wǒ de yǎnjìng ràng dìdì shuāi huài le./ Mắt kính của tôi bị em trai làm hư rồi. – 我今天被公司开除,被小偷偷了钱包, 还被女朋友骂了一通,真是悲惨的一天呀! /Wǒ jīntiān bèi gōngsī kāichú, bèi xiǎotōu tōu le qiánbāo, hái bèi nǚ péngyǒu mà le yítòng, zhēnshì bēicǎn de yītiān ya!/ Hôm nay tôi bị công ty đuổi việc, bị trộm trộm mất bóp tiền, còn bị bạn gái mắng cho một trận, thật là một ngày thê thảm mà! – 许多年过去了,这件事早已被人们淡忘了。 /Xǔduō nián guòqù le, zhè jiàn shì zǎoyǐ bèi rénmen dànwàng le./ Đã nhiều năm trôi qua rồi, việc này sớm đã bị mọi người lãng quên rồi. Xem thêm Tính từ chất và tính từ trạng thái trong tiếng Trung 2. Khi không cần nhấn mạnh chủ thể của hành động, tân ngữ của chữ “被 /bèi/” có thể lược bỏ Ví dụ – 我的钱包被偷了。 /Wǒ de qiánbāo bèi tōu le./ Ví tiền của tôi bị trộm mất rồi. – 她被淋成了落汤鸡了。 /Tā bèi lín chéng le luòtāngjī le./ Cô ấy bị ướt như chuột lột. Xem thêm Động từ trong tiếng Trung 3. Trong văn nói, thông thường sẽ dùng các giới từ “让 [jiào]、叫 [ràng]、给 [gěi]” để thay thế cho chữ “被 [bèi]” Khi dùng “让 [jiào]、 叫 [ràng]”, phía sau bắt buộc phải có tân ngữ chủ thể của hành động. Ví dụ – 我的小说叫凯特借去了。 /Wǒ de xiǎoshuō jiào Kǎitè jiè qù le./ Quyển tiểu thuyết của tôi bị Kate mượn mất rồi. Không thể nói 我的小说叫借去了。 – 我的车让姐姐开走了。 /Wǒ de chē ràng jiějie kāi zǒu le./ Xe của tôi bị chị gái lấy chạy đi rồi. Không thể nói 我的车让开走了。 Xem thêm Khóa học tiếng Trung 4. Phó từ phủ định hoặc động từ năng nguyện phải đặt phía trước chữ “被 [bèi] 让、叫”, không được đặt phía trước động từ Cuối câu phủ định không thể xuất hiện chữ “了[le]” nữa. Ví dụ – 还好,骨头没有被车撞伤。 /Hái hǎo, gǔtou méiyǒu bèi chē zhuàng shāng./ May quá, xương không bị thương do đụng xe. Không thể nói 还好,骨头被车没有撞伤了。 – 我的小说没有叫她借去。 /Wǒ de xiǎoshuō méiyǒu jiào tā jiè qù./ Quyển tiểu thuyết của tôi không bị cô ấy mượn đi. Không thể nói 我的小说叫她没有借去。 Xem thêm Luyện thi HSK chất lượng Các bạn cố gắng luyện tập để thành thạo cách dùng của điểm ngữ pháp Câu Bị Động Câu Chữ “被 /bèi/” này nhé. Chúc các bạn học tập vui vẻ!
TÓM TẮT Dịch thuật nói chung và phiên dịch nói riêng đang ngày càng trở nên phổ biến trong xu hướng hội nhập và quốc tế hóa. Vì tiếng Anh và tiếng Việt có hệ thống ngữ pháp và cấu trúc khác nhau nên việc dịch thuật cho hai ngôn ngữ này gặp nhiều trở ngại. Bài viết này trình bày kết quả nghiên cứu về cách thức dịch câu bị động từ tiếng Anh sang tiếng Việt nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho dịch thuật Anh-Việt, cụ thể là giúp các sinh viên ngành biên-phiên dịch viên thực hiện tốt hơn công việc của mình. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu là các kĩ thuật định tính thông dụng. Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp dịch câu bị động có tỉ lệ câu dịch tốt cao nhất là sử dụng cấu trúc tương đương với câu bị động và sử dụng cấu trúc tương đương với câu chủ động trong tiếng Anh. TỪ KHÓA phương pháp dịch; phiên dịch; biên-phiên dịch; phiên dịch hội thảo; câu bị động. NHẬN BÀI 16/7/2019. BIÊN TẬP-CHỈNH SỬA-DUYỆT ĐĂNG 23/9/2019 1. Đặt vấn đề Dịch thuật từ lâu đã trở thành một ngành học phổ biến. Tại Việt Nam, với số lượng sự kiện quốc tế ngày càng tăng với sự tham gia của những người từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới đến các hội thảo khoa học, hội nghị kinh doanh hoặc chỉ đơn giản là các buổi gặp gỡ người hâm mộ của những ca sĩ, cầu thủ nổi tiếng trên thế giới, nhu cầu dịch thuật, đặc biệt là phiên dịch, đã và đang ngày càng tăng. Mặc dù nhìn chung dịch thuật đã được biết đến từ lâu nhờ nghiên cứu từ các học giả ví dụ như Cicero, Quintillian, thế kỉ 1 trước Công nguyên, nhưng chỉ đến nửa sau thế kỉ 20 nghiên cứu dịch thuật mới được đặc biệt quan tâm Russell, 2005. Rõ ràng, nghiên cứu dịch thuật là một vấn đề lớn bao gồm nhiều khía cạnh, trong đó có phương pháp dịch cho từng loại câu cụ thể từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Hiện tại, chúng tôi chỉ mới tiếp cận được vài nghiên cứu về cách dịch từng loại câu cụ thể Khalil, 1993; Sultan, 2011; Farrokh, 2011 và chưa tiếp cận đuọc một nghiên cứu nào về cách dịch câu bị động từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Do đó, trong bài viết này, chúng tôi tìm hiểu phương pháp phổ biến và hiệu quả để dịch câu bị động; từ kết quả phân tích được, chúng tôi sẽ tổng hợp và đưa ra một vài đề xuất cho việc dịch câu bị động trở nên hiệu quả hơn. 2. Cơ sở lí thuyết Bối cảnh đào tạo biên phiên dịch tại Việt Nam Tại Việt Nam, việc đào tạo biên phiên dịch trước những năm 90 của thế kỉ 20 diễn ra nhỏ lẻ với cơ sở khoa học thấp. Sang thế kỉ 21, một số trường đại học trong nước mới bắt đầu đưa đào tạo biên phiên dịch vào chương trình đào tạo chính quy. Tuy nhiên, chương trình đào tạo biên phiên dịch trong giai đoạn này chủ yếu lấy đào tạo ngoại ngữ làm cốt lõi với một hai học kì cuối tập trung vào đào tạo kĩ năng biên phiên dịch. Cho đến nay, dù các chương trình đào tạo biên phiên dịch tại Việt Nam đã được cải thiện đáng kể, nhưng nhìn chung vẫn là tập trung về đào tạo ngoại ngữ với một số học kì cuối tập trung vào lí luận và kĩ năng biên phiên dịch. Các chương trình đào tạo này mới chỉ dừng lại ở cấp cử nhân và chưa có một hệ thống đánh giá chính thức nào về chất lượng đào tạo của chúng Lê Hùng Tiến, 2017. Theo tác giả này, đào tạo biên phiên dịch chuyên nghiệp tại Việt Nam đang gặp nhiều thách thức. Ngoài ba thách thức chung của thế giới là về phương pháp sư phạm, thiết kế chương trình và các nghiên cứu lí luận hỗ trợ, đào tạo biên phiên dịch tại Việt Nam vẫn còn nhiều tồn tại khác. Tồn tại thứ nhất là các chương trình đào tạo biên phiên dịch hiện nay vẫn còn thiếu vắng một cơ sở lí luận dẫn đường vừa dựa trên lí luận quốc tế vừa căn cứ vào bối cảnh của xã hội Việt Nam. Việc tìm ra * PGS. TS; Trường Đại học Quy Nhơn; Discover the world's research25+ million members160+ million publication billion citationsJoin for free NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG Số 9289-2019 44NGOẠI NGỮ VỚI BẢN NGỮ DỊCH CÂU BỊ ĐỘNG TRONG PHIÊN DỊCH HỘI THẢO KHOA HỌC ĐIỂN CỨU TỪ TRUNG TÂM HỘI THẢO QUỐC TẾ ICISE NGUYỄN QUANG NGOẠN* - ĐẶNG TRỊNH TRƯỜNG GIANG**TÓM TẮT Dịch thuật nói chung và phiên dịch nói riêng đang ngày càng trở nên phổ biến trong xu hướng hội nhập và quốc tế hóa. Vì tiếng Anh và tiếng Việt có hệ thống ngữ pháp và cấu trúc khác nhau nên việc dịch thuật cho hai ngôn ngữ này gặp nhiều trở ngại. Bài viết này trình bày kết quả nghiên cứu về cách thức dịch câu bị động từ tiếng Anh sang tiếng Việt nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho dịch thuật Anh-Việt, cụ thể là giúp các sinh viên ngành biên-phiên dịch viên thực hiện tốt hơn công việc của mình. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu là các kĩ thuật định tính thông dụng. Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp dịch câu bị động có tỉ lệ câu dịch tốt cao nhất là sử dụng cấu trúc tương đương với câu bị động và sử dụng cấu trúc tương đương với câu chủ động trong tiếng Anh. TỪ KHÓA phương pháp dịch; phiên dịch; biên-phiên dịch; phiên dịch hội thảo; câu bị động. NHẬN BÀI 16/7/2019. BIÊN TẬP-CHỈNH SỬA-DUYỆT ĐĂNG 23/9/2019 1. Đặt vấn đề Dịch thuật từ lâu đã trở thành một ngành học phổ biến. Tại Việt Nam, với số lượng sự kiện quốc tế ngày càng tăng với sự tham gia của những người từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới đến các hội thảo khoa học, hội nghị kinh doanh hoặc chỉ đơn giản là các buổi gặp gỡ người hâm mộ của những ca sĩ, cầu thủ nổi tiếng trên thế giới, nhu cầu dịch thuật, đặc biệt là phiên dịch, đã và đang ngày càng tăng. Mặc dù nhìn chung dịch thuật đã được biết đến từ lâu nhờ nghiên cứu từ các học giả ví dụ như Cicero, Quintillian, thế kỉ 1 trước Công nguyên, nhưng chỉ đến nửa sau thế kỉ 20 nghiên cứu dịch thuật mới được đặc biệt quan tâm Russell, 2005. Rõ ràng, nghiên cứu dịch thuật là một vấn đề lớn bao gồm nhiều khía cạnh, trong đó có phương pháp dịch cho từng loại câu cụ thể từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Hiện tại, chúng tôi chỉ mới tiếp cận được vài nghiên cứu về cách dịch từng loại câu cụ thể Khalil, 1993; Sultan, 2011; Farrokh, 2011 và chưa tiếp cận đuọc một nghiên cứu nào về cách dịch câu bị động từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Do đó, trong bài viết này, chúng tôi tìm hiểu phương pháp phổ biến và hiệu quả để dịch câu bị động; từ kết quả phân tích được, chúng tôi sẽ tổng hợp và đưa ra một vài đề xuất cho việc dịch câu bị động trở nên hiệu quả hơn. 2. Cơ sở lí thuyết Bối cảnh đào tạo biên phiên dịch tại Việt Nam Tại Việt Nam, việc đào tạo biên phiên dịch trước những năm 90 của thế kỉ 20 diễn ra nhỏ lẻ với cơ sở khoa học thấp. Sang thế kỉ 21, một số trường đại học trong nước mới bắt đầu đưa đào tạo biên phiên dịch vào chương trình đào tạo chính quy. Tuy nhiên, chương trình đào tạo biên phiên dịch trong giai đoạn này chủ yếu lấy đào tạo ngoại ngữ làm cốt lõi với một hai học kì cuối tập trung vào đào tạo kĩ năng biên phiên dịch. Cho đến nay, dù các chương trình đào tạo biên phiên dịch tại Việt Nam đã được cải thiện đáng kể, nhưng nhìn chung vẫn là tập trung về đào tạo ngoại ngữ với một số học kì cuối tập trung vào lí luận và kĩ năng biên phiên dịch. Các chương trình đào tạo này mới chỉ dừng lại ở cấp cử nhân và chưa có một hệ thống đánh giá chính thức nào về chất lượng đào tạo của chúng Lê Hùng Tiến, 2017. Theo tác giả này, đào tạo biên phiên dịch chuyên nghiệp tại Việt Nam đang gặp nhiều thách thức. Ngoài ba thách thức chung của thế giới là về phương pháp sư phạm, thiết kế chương trình và các nghiên cứu lí luận hỗ trợ, đào tạo biên phiên dịch tại Việt Nam vẫn còn nhiều tồn tại khác. Tồn tại thứ nhất là các chương trình đào tạo biên phiên dịch hiện nay vẫn còn thiếu vắng một cơ sở lí luận dẫn đường vừa dựa trên lí luận quốc tế vừa căn cứ vào bối cảnh của xã hội Việt Nam. Việc tìm ra * PGS. TS; Trường Đại học Quy Nhơn; Email nguyenquangngoan ** Trường Đại học Quy Nhơn; Email truonggiang909075 Số 9289-2019 NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG một cơ sở lí luận phù hợp là vô cùng thiết yếu trong việc xây dựng chương trình, phát triển tài liệu giảng dạy, phương pháp dạy và các vấn đề liên quan. Tồn tại thứ hai là lực lượng giáo viên dịch thuật chưa được đào tạo bài bản theo đúng với mục tiêu là đào tạo biên phiên dịch. Hầu hết các giáo viên dịch thuật tại Việt Nam được đào tạo theo chương trình giống hoàn toàn với chương trình đào tạo giáo viên dạy ngoại ngữ, dẫn đến sự thiếu hụt về kiến thức và kinh nghiệm thực tế trong ngành. Trong khi đó, giới biên phiên dịch chuyên nghiệp thường không có đủ kiến thức lí luận và nghiệp vụ sư phạm cần thiết cho việc giảng dạy. Do vậy, một yêu cầu cấp thiết nữa trong ngành đào tạo biên phiên dịch tại Việt Nam là trước hết phải có một đội ngũ giáo viên được đào tạo bài bản, vừa có lí luận, phương pháp vừa có kĩ năng và kinh nghiệm dịch thuật để đảm nhiệm vai trò đào tạo biên phiên dịch. Cuối cùng là tồn tại trong nhận thức sai lầm của các nhà quản lí đào tạo khi xem đào tạo biên phiên dịch chỉ là một nhánh nhỏ của ngành giảng dạy ngoại ngữ. Điều này dẫn đến sự thiếu hụt trong đầu tư nhân lực và vật lực cho ngành dịch thuật. Kết quả là các chương trình đào tạo biên phiên dịch chuyên nghiệp trở nên đại trà, thiếu khoa học và mang nhiều bất cập. Khó khăn trong dịch thuật Anh-Việt Sự khác biệt về văn hóa Châu Thị Hoàng Hoa 2015 đã thực hiện một nghiên cứu về giao tiếp liên văn hóa Việt-Anh. Qua đó, tác giả đã chỉ ra một số khác biệt về văn hóa giữa cộng đồng người nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ và cộng đồng người Việt. Những khác biệt về văn hóa được đề cập là khác biệt về cấu trúc hội thoại, khoảng dừng, sự im lặng, lối nói trực tiếp - gián tiếp và vấn đề lịch sự. Trong đó, sự bất tương đồng trong cách nhìn đối với lối nói trực tiếp hay gián tiếp, hay rộng hơn là vấn đề lịch sự, tiềm ẩn rất nhiều rủi ro trong giao tiếp liên văn hóa hoặc thậm chí là trong hoạt động biên phiên dịch. Theo tác giả này, thái độ đối với “gián tiếp” khác nhau theo từng ngôn ngữ. Ví dụ, đối với các cộng đồng của nền văn hóa tập thể collectivism như Việt Nam, việc giữ thể diện là một điều rất quan trọng, do đó họ đề cao việc sử dụng lối nói gián tiếp. Trong các cộng đồng văn hóa này, gián tiếp được xem là kín đáo, nhẹ nhàng, duyên dáng, khiêm cung, cẩn trọng. Ngược lại, lối nói trực tiếp có thể bị cho là thô tục, khiếm nhã, bất kính, thậm chí sỉ nhục. Việc trực tiếp từ chối, phê bình hoặc phản đối có thể gây ra những cản trở nhất định trong giao tiếp, đặc biệt là khi nói chuyện với những người có tuổi lớn hơn hoặc vị trí xã hội cao hơn. Tuy nhiên, đối với các cộng đồng người nói tiếng Anh, lối nói trực tiếp lại mang những ý nghĩa tích cực như đơn giản, thành thật, rõ ràng, dễ hiểu, tiết kiệm thời gian; còn gián tiếp có thể bị xem là dấu hiệu của sự thiếu tự tin, thiếu kiên quyết hay không quyết đoán. Đây là một vấn đề đáng lưu ý trong phiên dịch giữa hai ngôn ngữ Anh-Việt, bởi vì nếu phiên dịch viên chỉ tập trung vào việc bám theo lối hành văn của người nói mà quên đi sự khác nhau về thái độ của người nghe trong hai ngôn ngữ đối với lối hành văn đó, việc phiên dịch có thể dẫn đến hiệu quả sai lệch so với mong muốn của người nói, thậm chí có thể dẫn đến mâu thuẫn và xung đột. Trong bài viết của mình, Châu Thị Hoàng Hoa 2015 đã đưa ra một số giải pháp tập trung vào giáo dục văn hóa bên cạnh giáo dục ngôn ngữ để người học ý thức được sự khác biệt về văn hóa giữa cộng đồng hai ngôn ngữ để có cách ứng xử phù hợp. Bên cạnh việc nhận biết những khác biệt về văn hóa giữa hai ngôn ngữ, người dịch còn phải tìm ra biện pháp xử lí phù hợp cho từng tình huống cụ thể để có thể có một bản dịch vừa giữ được nội dung của phát ngôn trong ngôn ngữ nguồn vừa tạo ra hiệu quả mà người nói mong muốn mang đến cho người nghe ở ngôn ngữ đích. Việc này có thể được thực hiện thông qua một vài biện pháp xử lí như thay đổi cấu trúc của câu nói trong ngôn ngữ nguồn sao cho phù hợp với văn hóa của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ đích, hoặc có thể thêm lời giải thích ngay sau phần dịch. Trong bài nghiên cứu này, người dịch hoàn toàn không sử dụng đến biện pháp xử lí thứ hai mà chỉ một số lần áp dụng biện pháp xử lí thứ nhất. Các đường hướng đánh giá chất lượng bản dịch Colina 2008 đã phân loại các đường hướng đánh giá chất lượng bản dịch thành 4 loại chính, đó là đường hướng dựa trên kinh nghiệm và giai thoại experience-based & anecdotal approach, đường hướng dựa trên lí thuyết và nghiên cứu theoretical & research-based approach, đường hướng dựa trên phản hồi của độc giả reader-response approach và đường hướng dựa trên ngôn ngữ học văn bản và dụng học textlinguistic & pragmatic approach. Đường hướng dựa trên kinh nghiệm và giai thoại NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG Số 9289-2019 46tuy giúp người sử dụng đánh giá được chất lượng của bản dịch trong một số trường hợp nhưng phương pháp này không được sử dụng rộng rãi vì nó thiếu một khung lí thuyết rõ ràng và thiếu bằng chứng thực nghiệm. Ngoài ra, phương pháp này hầu như không có khả năng áp dụng trong nhiều lĩnh vực replicability và thiếu vắng độ tin cậy giữa những người đánh giá inter-rater reliability. Về đường hướng dựa trên lí thuyết và nghiên cứu, mặc dù dựa trên một cơ sở lí thuyết hay một giả định, phương pháp này cũng tồn tại một số vấn đề gây ngăn trở cho việc ứng dụng rộng rãi của nó. Colina 2008 cho rằng phương pháp này quá tập trung vào chất lượng mà quên đi rằng trong dịch thuật còn những yếu tố quan trọng hơn phải quan tâm như cảm xúc của độc/ thính giả. Chính vì thế, phương pháp này thường khó áp dụng trong những lĩnh vực khác có tính chuyên môn cao và trong môi trường giảng dạy. Nhiều học giả ủng hộ hướng tiếp cận đánh giá bản dịch dựa trên phản hồi của độc giả reader-response approaches. Những học giả này cho rằng việc đánh giá chất lượng của một bản dịch cần dựa trên phản hồi của độc giả ở ngôn ngữ đích. Xuất phát từ quan điểm này, có hai hướng tiếp cận, đó là phương pháp Ngôn ngữ tâm lí học trong đánh giá bản dịch Behavioristic views và Trường phái chức năng của Đức Functionalist approach Triệu Thu Hằng, 2017. House 2015 cho rằng các bài kiểm tra dựa trên những phản hồi cảm tính của độc giả trong phương pháp Ngôn ngữ tâm lí học là chưa đủ để đánh giá đầy đủ và toàn diện chất lượng của bản dịch. Bên cạnh đó, phương pháp này chưa có sự xem xét đầy đủ đối với vai trò của bản gốc mà chỉ tập trung vào việc đánh giá phản hồi của độc giả. Về Trường phái chức năng của Đức, điểm mạnh của phương pháp này là một bản gốc có thể được dịch theo nhiều sách lược, phương án khác nhau dựa trên những mục đích khác nhau của bản dịch. Ngoài ra, người dịch được trao quyền tự do trong việc lựa chọn những chiến lược, phương pháp dịch để đạt được những mục đích dịch khác nhau mà người dịch đang nhằm hướng tới. Tuy nhiên, Triệu Thu Hằng 2017 cũng cho rằng phương pháp này không phù hợp với đánh giá dịch một số thể loại văn bản nhất định, cụ thể là đánh giá dịch văn học vì phương pháp này không tập trung vào bản gốc và những đặc điểm ngôn ngữ của bản gốc, mà trong văn học đặc điểm ngôn ngữ là một yếu tố không thể bỏ qua. Đường hướng dựa trên ngôn ngữ học văn bản và dụng học textlinguistic & pragmatic approach có vai trò quan trọng trong việc chuyển trọng tâm từ tìm lỗi sang đánh giá văn bản và mục tiêu dịch thuật. Tuy vậy, cách tiếp cận này không được các chuyên gia và học giả áp dụng rộng rãi. Nhiều đề xuất và mô hình khác nhau không được đánh giá cao vì họ chỉ tập trung vào văn bản nguồn hoặc chỉ tập trung vào bản dịch. Mô hình chức năng của House 1997, 2001 là một ví dụ điển hình cho đường hướng tiếp cận này. Mô hình này dựa trên việc phân tích, so sánh và đánh giá mức độ phù hợp giữa các đặc điểm ngôn ngữ-tình huống trong một văn bản nguồn và bản dịch của nó. Tiêu chí quan trọng nhất của mô hình này là các đặc điểm và chức năng trong bản dịch phải phù hợp với các đặc điểm và chức năng của văn bản gốc, tức là tạo ra sự tương đương về chức năng giữa bản gốc và bản dịch. Tuy nhiên, đường hướng tiếp cận này gặp nhiều vấn đề do phụ thuộc quá nhiều vào khái niệm “tương đương”. Đây là một khái niệm không rõ ràng và gây nhiều tranh cãi trong các nghiên cứu dịch thuật Colina, 2008. Đó cũng là một trở ngại lớn bởi vì chức năng của một văn bản gốc có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy vào đối tượng người đọc của văn bản đó là ai và tùy vào hoàn cảnh diễn ra văn bản đó. Ngoài ra, đường hướng này cũng chưa có tiêu chí đánh giá cụ thể sau khi các đặc điểm văn bản và chức năng của bản gốc và bản dịch được xem xét. Ngoài bốn đường hướng đánh giá chất lượng bản dịch nêu trên, trong những năm gần đây xuất hiện một hướng tiếp cận mới đang được sử dụng khá phổ biến để đánh giá dịch thuật đó là sử dụng thang đánh giá rating scales. Trên thực tế, chưa có nghiên cứu nào chứng minh hiệu quả của việc sử dụng phương pháp đánh giá này vì chưa có một nghiên cứu thực nghiệm nào thực sự có quy mô đủ lớn để đưa ra những kết luận đáng tin cậy. Tuy vậy, thang đánh giá đang ngày càng được sử dụng rộng rãi hơn trong các kì thi cấp chứng chỉ phiên dịch viên, trong đánh giá giáo dục phiên dịch và trong nghiên cứu phiên dịch Han, 2017. Số 9289-2019 NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG 3. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu này dùng một thang đánh giá để đánh giá chất lượng bản dịch của 120 câu bị động trong tiếng Anh được trình bày bởi các nhà khoa học châu Âu và được phiên dịch viên chuyên nghiệp dịch sang tiếng Việt tại chuỗi Hội thảo khoa học quốc tế diễn ra tại Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục Liên ngành ICISE đặt tại Quy Nhơn, Bình Định. Trung tâm ICISE được thành lập nhằm phục vụ các nhà khoa học và kĩ sư nghiên cứu chuyên môn trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Nơi đây thường xuyên diễn ra các hội nghị quốc gia và quốc tế, hội thảo chuyên ngành, cũng như các khóa học chuyên đề, đặc biệt dành cho các nghiên cứu sinh với sự hỗ trợ và quan tâm đặc biệt từ phía chính quyền địa phương và nhà nước. Hội thảo khoa học được khảo sát trong nghiên cứu này diễn ra trong bốn ngày từ ngày 8 đến ngày 11 tháng 5 năm 2018 với chủ đề chính là Khoa học vì Sự phát triển Science for Development. Trong bốn ngày diễn ra hội thảo, có tổng cộng bảy phiên bàn tròn được tổ chức. Tất cả các bài phát biểu, trình bày và tham luận của bảy phiên bàn tròn này đều được ghi âm cả bản gốc bằng tiếng Anh và bản dịch bằng tiếng Việt. Từ các bản ghi âm này, chúng tôi chọn ra ngẫu nhiên 120 câu bị động vừa có bản gốc và vừa có bản dịch để sử dụng cho nghiên cứu này. Về tiêu chí đánh giá bản dịch, sau khi xem xét các tiêu chí đánh giá của một số nhà khoa học như Llewellyn-Jones 1981, Strong & Rudser 1985, Gile 1999, Chao Han 2018 Han, 2018, và Brunette 2000, cũng như xem xét tính chất đặc thù của nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra 3 tiêu chí đánh giá bản dịch cho nghiên cứu này dựa trên 3 trong tổng số 4 tiêu chí đánh giá của Brunette 2000 “thông điệp” nội dung của câu gốc có giống với nội dung của câu dịch hay không, nói cách khác là câu dịch có truyền tải đúng và đủ nội dung của câu gốc hay không, “ngữ cảnh” ngôn từ được chọn trong câu dịch có phù hợp với bối cảnh phát ngôn của câu gốc hay không, và “chuẩn mực ngôn ngữ” câu dịch có dễ hiểu không, có quen thuộc với người Việt Nam không. Sau đây là bảng 1 bảng quy chiếu đánh giá chất lượng bản dịch. Bảng 1. Bảng quy chiếu chất lượng bản dịch Chất lượng bản dịch Thông điệp Ngữ cảnh Chuẩn mực ngôn ngữ Tốt Thỏa mãn Thỏa mãn Thỏa mãn Trung bình Thỏa mãn Vi phạm Thỏa mãn Vi phạm Vi phạm Kém Vi phạm Thỏa mãn Thỏa mãn Thỏa mãn Vi phạm Vi phạm Vi phạm Bản dịch được đánh giá “tốt” khi cả ba tiêu chí đều được thỏa mãn và bản dịch bị đánh giá “kém” khi tiêu chí quan trọng nhất tức là thông điệp bị vi phạm. Nguyên nhân cho việc đánh giá bản dịch như vậy là vì trên thực tế nếu bản dịch không truyền đạt được nội dung của bản gốc, hay nói cách khác là không có cùng thông điệp với bản gốc thì đó được xem là một thất bại dịch thuật. Đối với các trường hợp còn lại, bản dịch sẽ được đánh giá “trung bình”, đó là khi tiêu chí “thông điệp” được thỏa mãn tuy nhiên có ít nhất một trong hai tiêu chí còn lại bị vi phạm. 4. Kết quả nghiên cứu Nhìn chung, các câu bị động được khảo sát trong nghiên cứu này được dịch khá thành công với 83 câu dịch “tốt”, 28 câu dịch “trung bình” và 9 câu dịch “kém”. Để dịch câu bị động, người dịch đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó “Sử dụng tương đương của câu bị động trong tiếng Anh” là phương pháp phổ biến nhất với 47 lần được sử dụng. Tiếp đến là phương pháp “Sử dụng tương đương của câu chủ động trong tiếng Anh” với 24 lần. Phương pháp tiếp theo là “Chỉ đổi động từ chính sang dạng chủ động mà không thay đổi vị trí các thành phần khác của câu” với 22 lần sử dụng. Ngoài ba phương pháp chính này, người dịch cũng sử dụng phương pháp diễn đạt lại ý tưởng NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG Số 9289-2019 48của câu gốc bằng nhiều cấu trúc và kiểu câu khác nhau để dịch câu bị động từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Các câu bị động được khảo sát trong nghiên cứu này đa số là câu đơn, rất thuận lợi cho quá trình nghe hiểu của người dịch. Ngoài ra, chủ ngữ của những câu này đa số là những danh từ cụ thể, chỉ có một vài trường hợp là những danh từ trừu tượng, tuy nhiên những danh từ trừu tượng này lại là những từ khá phổ biến trong tiếng Việt và chúng còn được bổ nghĩa bởi những thành tố khác giúp người dịch dễ dàng xác định chủ thể tiếp nhận hành động một cách dễ dàng. Trong câu bị động, chủ ngữ của câu là thành tố đứng đầu tiên trong câu, cũng là thành tố mang nghĩa chính, không giống với một số thành tố phụ chỉ có chức năng bổ nghĩa, làm rõ nghĩa cho những thành tố khác. Vì lí do đó, việc nghe và hiểu được chủ ngữ trong câu bị động đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình dịch. Một mặt, nó là bước đà trong tiến trình dịch cả câu, tạo ra một tâm thế ổn định cho người dịch để dịch phần còn lại của câu mà không bị áp lực hay bế tắc. Mặt khác, nó giúp người dịch tiên đoán phần còn lại của câu, giới hạn lại những nội dung, chủ đề mà người nói có thể nói trong câu, và có thể đưa ra những dự đoán chính xác trong trường hợp người dịch không nghe rõ phần phát ngôn còn lại. Một thành tố chính khác trong câu là động từ. Hệ thống động từ trong tiếng Anh và trong tiếng Việt không hoàn toàn giống nhau, gây những khó khăn nhất định trong việc dịch, đặc biệt là đối với những động từ đa nghĩa hay đối với những động từ mô tả những hoạt động chỉ có trong Văn hóa Anh mà không có trong Văn hóa Việt. Trong nghiên cứu này không gặp bất kì trường hợp khó khăn do bất đồng văn hóa nào. Có lẽ đó là do diễn giả ý thức được rằng họ đang phát biểu trong một hội nghị quốc tế, nơi mà những người tham dự đến từ nhiều quốc gia và nền văn hóa khác nhau, nên các diễn giả đã hạn chế tối đa và bỏ qua những từ mà họ nghĩ là sẽ gây khó khăn cho việc nghe hiểu của thính giả. Đối với trường hợp từ đa nghĩa, trong nghiên cứu này có một số trường hợp câu dịch bị lệch nghĩa so với câu gốc vì người dịch chọn sai nét nghĩa của từ so với ý mà người nói muốn diễn đạt. Để hiểu rõ hơn và có một cái nhìn cụ thể hơn, chúng ta hãy xem xét cụ thể từng phương pháp mà người dịch sử dụng để dịch câu bị động. Sử dụng cấu trúc tương đương với câu bị động trong tiếng Anh Phương pháp được người dịch sử dụng nhiều nhất khi dịch câu bị động từ tiếng Anh sang tiếng Việt là sử dụng cấu trúc tương đương với câu bị động trong tiếng Anh, với cấu trúc câu Chủ ngữ + bị/ được + động từ. Diệp Quang Ban 1992 gọi “bị” và “được” là các “động từ không độc lập ở cương vị thành tố chính cụm động từ”, trong đó gồm hai tiểu loại là “động từ không độc lập đứng trước danh từ” và “động từ không độc lập đứng trước cụm chủ-vị” Với 47 lần được sử dụng, đây là phương pháp được sử dụng nhiều nhất và cũng là phương pháp hiệu quả nhất với tỷ lệ các câu dịch “tốt” chiếm 80,9% và không có câu dịch “kém” nào trong tổng số các câu dịch sử dụng phương pháp này. Thuận lợi đầu tiên khi áp dụng phương pháp này là người dịch chỉ cần lặp lại mạch ý theo đúng thứ tự chúng được phát ngôn mà không cần phải suy nghĩ để tìm cách thay đổi lại cấu trúc câu. Việc này giúp người dịch xử lí thông tin nhanh hơn và có cơ hội dịch trọn vẹn ý nghĩa của câu hơn. Thuận lợi thứ hai là thuận lợi về cấu trúc. Tuy chưa có sự thống nhất chung rằng trong ngữ pháp tiếng Việt có cái gọi là “câu bị động” hay không, nhưng có thể nói cách sử dụng “bị” và “được” trong tiếng Việt là một dạng tương đương của “thể bị động” trong tiếng Anh. Vì có sự tương đồng về cấu trúc, nên khi người dịch sử dụng “bị” và “được” để dịch câu bị động, người nghe có thể dễ dàng hiểu được nội dung mà người dịch muốn truyền tải. Trong các trường hợp câu dịch tốt, chủ ngữ của những câu cần dịch đa số là những danh từ cụ thể, chỉ có một số trường hợp là những danh từ trừu tượng như hai ví dụ bên dưới, tuy nhiên những danh từ trừu tượng này lại là những từ khá phổ biến trong tiếng Việt và chúng còn được bổ nghĩa bởi những thành tố khác trong hai ví dụ bên dưới là tính từ chỉ định “these” giúp người dịch dễ dàng xác định chủ thể nhận hành động. Động từ trong các trường hợp này là những động từ phổ biến mà có thể dễ dàng tìm thấy từ tương đương trong tiếng Việt, không quá đánh đố người dịch, không quá nhiều nét nghĩa để lựa chọn. Do đó, thông điệp của tất cả các câu bị động trong nghiên cứu này đều Số 9289-2019 NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG được truyền tải thành công từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích. Xét về tiêu chí “chuẩn mực ngôn ngữ” đánh giá về độ quen thuộc và tự nhiên của câu đối với người nghe ở ngôn ngữ đích, hay nói cách khác là độ dễ hiểu của câu đối với người Việt Nam, có thể thấy những câu dịch này rất đơn giản và dễ hiểu đối với người Việt Nam. Xét đến tiêu chí cuối cùng, là ngữ cảnh, rõ ràng trong một bài phát biểu hội nghị, giữ cho văn phong nói trang trọng, hoặc ít nhất là không có yếu tố khiếm nhã, là một tiêu chí có thể nói là bắt buộc trong bất kì tình huống nào. Tiêu chí này đánh giá việc lựa chọn nét nghĩa nào của từ để dịch VD nghĩa trang trọng hay nghĩa châm biếm trong từng tình huống cụ thể. Trong các trường hợp câu dịch tốt này, không có bất kì trường hợp nào người dịch vi phạm tiêu chí “ngữ cảnh”. Đây có thể là kết quả từ việc người dịch có thể nghe hiểu dễ dàng ý nghĩa của câu cần dịch như vừa được phân tích ở trên. Và do đó, một khi người dịch đã nắm bắt tốt ý nghĩa và nội dung của câu cần dịch, họ có thể lựa chọn nét nghĩa phù hợp nhất của một từ để sử dụng cho ngữ cảnh đó. Ví dụ 1 và ví dụ 2 bên dưới là hai ví dụ cho bản dịch “tốt”. Ví dụ 1 These guidelines were formulated to provide a framework for promoting debate on Hướng dẫn này được đưa ra để tạo khuôn khổ cho các cuộc thảo luận về các chuẩn mực đạo đức. 2 I was asked what to predict about Cuba Tôi cũng được yêu cầu là dự đoán về Cuba. Tuy nhiên trong một số trường hợp, chủ ngữ và động từ của câu gây khó hiểu cho người dịch và nếu người dịch tiếp tục giữ cấu trúc như vậy sẽ lại gây khó hiểu cho người nghe. Trong ví dụ 3, chủ ngữ “science” là một danh từ trừu tượng đa nghĩa, một vài nét nghĩa của nó như là “knowledge about the structure and behaviour of the natural and physical world, based on facts that you can prove”; “the study of science”; hay “a system for organizing the knowledge about a particular subject, especially one concerned with aspects of human behaviour or society” theo Từ điển Oxford, động từ chính “use”, tuy là một động từ phổ biến nhưng lại có thể được sử dụng với hầu hết mọi danh từ, gây khó khăn cho người dịch, khiến người dịch không biết nên dịch danh từ “science” với nét nghĩa nào. Điều tương tự cũng xảy ra trong câu dịch. Khi người dịch dịch thành “Khoa học đã được sử dụng để…”, người nghe trong tiếng Việt sẽ dễ cảm thấy mơ hồ, khó hiểu vì không biết từ “khoa học” ở đây là đề cập đến nét nghĩa nào, và được sử dụng bởi ai? Chính vì lí do đó, trong câu này, chúng tôi đề xuất thêm vào câu này một đại từ bất định và đặt nó làm chủ ngữ của câu để tránh vi phạm tiêu chí “tiêu chuẩn ngôn ngữ”. Ví dụ 3 Science is being used to reveal the truth in regard to allegations of use of chemical weapons. ->Khoa học đã được sử dụng để tiết lộ sự thật sử dụng vũ khí hóa học. Đề xuất Người ta dùng khoa học để tiết lộ sự thật sử dụng vũ khí hóa học. Ngoài ra, trong vài trường hợp, tiêu chí “ngữ cảnh” cũng bị vi phạm ví dụ 4. Các trường hợp này có thể là do người dịch muốn tạo điểm nhấn cho câu dịch của mình. Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, những câu dịch phải giữ được sự trang trọng, lịch sự cần thiết. Do đó những từ có thể gây khó chịu như “ngó đến” trong ví dụ 4 phải được thay thế bởi từ dụ 4 I want to stress the fact that biodiversity is mentioned in the Tôi muốn nói rằng là các sự đa dạng sinh thái cũng được ngó đến trong các mục tiêu phát triển bền vững. Đề xuất Tôi muốn nhấn mạnh rằng đa dạng sinh thái cũng được đề cập đến trong các mục tiêu phát triển bền vững. Sử dụng cấu trúc tương đương với câu chủ động trong tiếng Anh Trong phương pháp này, người dịch sẽ không dùng “bị” hoặc “được” nữa, đồng thời hoán đổi vị trí giữa chủ thể thực hiện hành động với đích thể tiếp nhận tác động của hành động đó. Tuy không được sử dụng nhiều nhưng phương pháp này cũng được sử dụng khá thành công với 18 câu dịch “tốt”, 5 câu dịch “trung bình” và 1 câu dịch “kém”. Cụ thể, trong 24 lần sử dụng phương pháp này, người dịch vi phạm tiêu chí “chuẩn mực ngôn ngữ” 5 lần, vi phạm tiêu chí “ngữ cảnh” 1 lần và vi phạm tiêu chí “thông điệp” 1 lần. Lợi thế của phương pháp này đó là cấu trúc câu mà người dịch sử dụng tồn tại trong cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt. Điều này một mặt giúp cho người dịch dễ dàng chuyển đổi câu bị động ở ngôn ngữ nguồn sang câu chủ động ở ngôn ngữ đích, mặt khác nó cũng giúp cho người nghe ở ngôn ngữ đích NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG Số 9289-2019 50dễ dàng hiểu được ý nghĩa, nội dung mà người nói muốn truyền tải. Bất lợi của phương pháp này so với việc giữ nguyên cấu trúc bị động là ở chỗ người dịch phải nghe hết câu thì mới có thể dịch được vì chủ ngữ của câu dịch lại nằm ở cuối câu gốc. Ngoài ra, để chuyển ngữ một câu từ cấu trúc bị động sang cấu trúc chủ động ở ngôn ngữ khác, người dịch phải thực hiện nhiều nhiệm vụ cùng lúc, vừa nghe hiểu thông tin đầu vào, vừa xử lí thông tin để chuyển chúng sang cấu trúc chủ động và đồng thời dịch thông tin đó sang một ngôn ngữ khác. Tất nhiên, đối với những phiên dịch viên chuyên nghiệp thì những nhiệm vụ trên không phải là quá khó và thời gian họ thực hiện những nhiệm vụ đó là khá nhanh. Tuy nhiên, nếu người dịch gặp những yếu tố tác động không mong muốn như là diễn giả nói không rõ đích thể tiếp nhận tác động của hành động hay câu nói quá dài, thì việc sử dụng phương pháp này cũng không phải là tối ưu. Bên cạnh đó, nếu sử dụng phương pháp này trong một khoảng thời gian dài, vì phải xử lí nhiều nhiệm vụ cùng lúc, trí lực của người dịch cũng dễ bị suy giảm hơn, gây ảnh hưởng đến chất lượng dịch thuật. Trong nghiên cứu này, các câu được người dịch sử dụng phương pháp này đa số là những câu đơn và thường không có thành tố thực hiện hành động của động từ. Do đó, người dịch thường dùng các đại từ bất định như “người ta”, “rất nhiều người”, “có người” hoặc những đại từ chỉ chung như “chúng ta”, “mọi người”. Phần lớn các câu dịch được đánh giá “tốt” như hai ví dụ dưới dụ 5 A concerted effort is needed that includes governments, the scientific community as well as the Chúng ta cần có các nỗ lực tổng hòa bao gồm của chính phủ, của cộng đồng khoa học và của ngành công nghiệp. 6 A lot of things have already been said yesterday. -> Có rất nhiều điểm mà hôm qua chúng ta đã nói. Tuy nhiên vẫn có 5 câu dịch được đánh giá “trung bình” và 1 câu bị đánh giá “kém”. Trong số 5 câu dịch được đánh giá “trung bình”, có 4 câu vi phạm tiêu chí “chuẩn mực ngôn ngữ” và 1 câu vi phạm tiêu chí “ngữ cảnh”. Trong ví dụ 7, câu dịch vi phạm các tiêu chí “chuẩn mực ngôn ngữ”. Cụm từ “cách mà chúng ta phải làm khoa học” khá vụng về và không rõ ràng, do đó nên được thay thành “cách làm khoa học mà chúng ta nên dùng”. Ví dụ 7 Science was done in the way I think it should have been done. -> Tôi nghĩ rằng đó là cách mà chúng ta phải làm khoa học. Đề xuất Tôi nghĩ đó là cách làm khoa học mà chúng ta nên sử dụng/ thực hiện Trong ví dụ 8, câu dịch vi phạm tiêu chí “ngữ cảnh” vì trong câu này lựa chọn nét nghĩa “ngành công nghiệp” để dịch từ “industry” là không hợp lí, mà phải chọn nét nghĩa “doanh nghiệp”. Ví dụ 9 Academies are funded by industry. -> Các ngành công nghiệp tài trợ cho họ. Đề xuất Doanh nghiệp bên ngoài tài trợ cho họ. Đối với câu dịch duy nhất bị đánh giá “kém” ví dụ 9, câu gốc và câu dịch có thông điệp khác nhau. Trong khi từ “achieve” trong câu gốc chỉ việc đạt được một thành tựu gì đó, thì từ “làm” trong câu dịch là một từ rất chung chung và trung tính, không thể phân biệt là tốt hay xấu. Ngoài ra, tuy câu gốc không có chủ thể thực hiện hành động “achieve” nhưng nếu câu dịch sử dụng cấu trúc chủ động mà lại khuyết chủ ngữ thì câu lại càng gây khó hiểu. Do đó chúng tôi đề xuất thêm một đại từ bất định làm chủ ngữ của câu và đổi động từ “làm” thành động từ “đạt được”.Ví dụ Get the global view what has been toàn cầu xem đã làm điều gì. Đề xuất Nhìn toàn cầu xem nhân loại đã đạt được điều gì. Chỉ chuyển dạng động từ thành chủ động, vị trí các thành phần còn lại giữ nguyên Phương pháp này khá giống với phương pháp 1, chỉ trừ một điểm là người dịch không còn sử dụng “bị” hoặc “được” trong câu dịch nữa. Đây là một đặc tính đặc biệt của động từ trong tiếng Việt và cách dùng từ này không có tương đương trong tiếng Anh. Trong tiếng Việt, trong một số trường hợp, động từ dù không có “bị” hoặc “được” đi trước vẫn được ngầm hiểu là đang dùng với nghĩa bị động, có nghĩa là chủ ngữ của những câu này không phải là chủ thể thực hiện hành động mà là người hoặc vật nhận tác động của động từ. Số 9289-2019 NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG Vì phương pháp dịch này khá giống với phương pháp 1 nên chúng có một số thuận lợi như nhau. Chẳng hạn, khi sử dụng phương pháp này người dịch cũng chỉ cần lặp lại mạch ý theo đúng thứ tự chúng được phát ngôn mà không cần phải suy nghĩ để tìm cách thay đổi lại cấu trúc câu. Việc này giúp người dịch xử lí thông tin nhanh hơn và có cơ hội dịch trọn vẹn ý nghĩa của câu hơn. Thứ hai, vì kiểu câu này cũng rất quen thuộc với người Việt nên khi người dịch sử dụng phương pháp này, người nghe có thể dễ dàng hiểu được nội dung mà người dịch muốn truyền tải. Khi sử dụng phương pháp này, người dịch được đánh giá dịch “tốt” 12 câu ví dụ 10 và 11, dịch “trung bình” 7 câu ví dụ 12 và 13 và dịch “kém” 3 câu ví dụ 14 và 15. Trong đó, tiêu chí “chuẩn mực ngôn ngữ” bị vi phạm 7 lần, tiêu chí “ngữ cảnh” bị vi phạm 4 lần và tiêu chí “thông điệp” bị vi phạm 3 dụ 10 Babies are born with a lower length than con sinh ra ngắn hơn so với tiêu chuẩn trung bình. 11 What kind of scientific approach can be used to seek for a closer relationship between the quality of medical research and quality of medical cách tiếp cận khoa học nào có thể sử dụng để tìm ra một mối quan hệ nhân quả giữa chất lượng nghiên cứu khoa học y tế và chất lượng chăm sóc y tế. 12 Haircut for example, cannot be traded with other dụ như là cẳt tóc chẳng hạn thì không thể nào bán đi nước khác được. Đề xuất Ví dụ không thể kinh doanh cắt tóc với các nước khác được. vì “cắt tóc” không nên dùng với động từ “bán” vì sẽ làm câu tối nghĩa 13 Chemistry is only used for peaceful Hóa học chỉ sử dụng trong mục đích hòa bình. Đề xuất Hóa học chỉ được sử dụng cho/ vì mục đích hòa bình. 14 We are still very limited by the number of universities that we have in this ta vẫn còn hạn chế về các trường đại học trong khu vực này. Đề xuất Chúng ta vẫn bị hạn chế bởi số lượng trường đại học trong khu vực. Nếu không nói rõ là hạn chế về số lượng thì người nghe dễ hiểu lầm là hạn chế về các mặt khác như chất lượng đào tạo, 15 The science is included in the big policies. ->Khoa học có thể đưa vào được quá trình ra quyết định. Đề xuất Khoa học là một phần của các chính sách quan trọng. Dùng cấu trúc khác Ngoài 3 phương pháp được đề cập ở trên, người dịch còn chọn phương pháp diễn đạt lại ý tưởng của người nói theo một cấu trúc khác. Trong tổng số 27 lần dùng phương pháp này, các câu dịch được đánh giá “tốt” 15 lần ví dụ 16 và 17, “khá” 7 lần ví dụ 18 và 19 và “kém” 5 lần ví dụ 20 và 21. Trong đó, có 10 trường hợp vi phạm tiêu chí “chuẩn mực ngôn ngữ”, 2 trường hợp vi phạm tiêu chí “ngữ cảnh” và 5 trường hợp vi phạm tiêu chí “thông điệp”. Nhìn chung, khi sử dụng phương pháp này để dịch câu bị động, người dịch thường vi phạm tiêu chí “chuẩn mực ngôn ngữ” nhất. Một điểm đáng lưu ý nữa đó là nguyên nhân chính dẫn đến việc vi phạm tiêu chí “thông điệp” chủ yếu là do người dịch dịch sai động từ chính của câu. Ví dụ 16 CERN was granted the statute observer in United Nations General CERN trở thành một quan sát viên của Đại hội đồng Liên hợp quốc. 17 This cannot be achieved without keeping abreast of the development in science and Việc này sẽ không đạt được nếu như chúng ta không theo kịp sự phát triển của khoa học và công nghệ. 18 That can be traded without the sản xuất hàng hóa có thể buôn bán được ở các nước khác. Đề xuất Công việc này có thể được kinh doanh ở các nước khác. vì “việc sản xuất” không thể đi với “có thể buôn bán”, làm câu bị tối nghĩa NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG Số 9289-2019 5219 Sustainable development of society can only be reached if another very important perimeter is guaranteed which is Sự phát triển bền vững của xã hội có thể đạt được nếu như mà một yếu tố khác quan trọng đó là hòa bình phải có được. Đề xuất Chúng ta chỉ có thể đạt được sự phát triển bền vững nếu chúng ta có hòa bình, một yếu tố quan trọng khác. vì cách dùng cấu trúc của người dịch rất lạ tai đối với người Việt, có thể dẫn đến khó hiểu cho người nghe 20 The OPCW is indicated to eliminating all stockpiles of chemical warfare agents under strict and effective international OPCW cam kết xóa bỏ mọi hình thức các vũ khí hóa học và có thể kiểm chứng được. Đề xuất OPCW được chỉ định loại bỏ tất cả kho vũ khí hóa học dưới sự giám sát nghiêm ngặt và hiệu quả của quốc tế. câu dịch của phiên dịch bị thiếu nghĩa và tối nghĩa 21 The current diplomatic advisor to the French president was trained as a young mathematician. -> Cố vấn ngoại giao của tổng thống Pháp hồi trẻ là một nhà toán học. Đề xuất Cố vấn ngoại giao hiện tại của tổng thống Pháp lúc trước học chuyên ngành Toán. vì được đào tạo chuyên ngành Toán chưa chắc đã trở thành một nhà toán học. 5. Kết luận và đề xuất Kết luận Khi dịch câu bị động từ tiếng Anh sang tiếng Việt, người dịch trong nghiên cứu này có xu hướng dùng cấu trúc tương đương với câu bị động trong tiếng Anh với 47 lần được sử dụng trong tổng số 120 câu dịch. Đây có thể là do phương pháp này là phương pháp ít đòi hỏi việc xử lí thông tin từ người dịch nhất, giúp người dịch dịch nhanh nhất và có cơ hội dịch đầy đủ ý nghĩa của câu gốc nhất. Hai phương pháp có tỉ lệ dịch tốt cao nhất là phương pháp dùng cấu trúc tương đương với câu bị động trong tiếng Anh và phương pháp dùng cấu trúc tương đương với câu chủ động trong tiếng Anh với tỉ lệ câu dịch tốt lần lượt là 80,9% và 81,8%. Đây có thể là do những cấu trúc này tồn tại trong cả tiếng Anh và tiếng Việt giúp cho việc chuyển ngữ của người dịch được thuận lợi. Bên cạnh đó, những cấu trúc này cũng quen thuộc với người Việt Nam nên câu dịch thường ít vi phạm tiêu chí “chuẩn mực ngôn ngữ”. Các câu dịch “kém” trong nghiên cứu này hay nói cách khác là các câu vi phạm tiêu chí “thông điệp” xuất phát từ nguyên nhân chính là dịch sai từ. Trong một số trường hợp, từ bị dịch sai là từ mang nghĩa chính của câu ví dụ như danh từ và động từ của câu, trong một số trường hợp khác, các từ dịch sai là các giới từ, liên từ, làm cho mối quan hệ giữa các thành tố trong câu bị sai lệch so với câu gốc. Trong 3 tiêu chí đánh giá bản dịch thì tiêu chí về “chuẩn mực ngôn ngữ” là tiêu chí bị vi phạm nhiều nhất. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, ví dụ chủ ngữ và động từ chính của câu không hòa hợp về nghĩa, cấu trúc câu phức tạp, khó hiểu hay cách dùng từ rườm rà, mơ hồ, Đề xuất Rõ ràng, có rất nhiều việc phải làm để biến công việc dịch thuật nói chung và phiên dịch nói riêng trở nên hoàn mĩ, tuy nhiên dựa trên kết quả của nghiên cứu này, chúng tôi có một số đề xuất tiêu biểu sau. Đối với loại câu bị động, dựa trên kết quả phân tích 120 câu phiên dịch hội thảo trong nghiên cứu này, chúng tôi đề xuất người dịch nên sử dụng phương pháp dùng cấu trúc câu tương đương câu bị động và cấu trúc câu tương đương câu chủ động trong tiếng Anh để dịch các câu bị động từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Thứ hai, người dịch nên tránh dịch sai từ ngữ trong câu gốc vì như vậy có thể làm cho nghĩa của câu dịch khác với nghĩa ban đầu, khi đó thông điệp của người nói sẽ không còn được truyền tải đúng và đầy đủ đến người nghe. Cuối cùng, vì “chuẩn mực ngôn ngữ” là tiêu chí bị vi phạm nhiều nhất, nên chúng tôi đề xuất người dịch nên chú ý đến vấn đề này khi dịch. Điều này có nghĩa là, người dịch phải đảm bảo câu dịch của họ phải có nghĩa dễ hiểu đối với cộng đồng người nghe ở ngôn ngữ đích. Việc này có thể được thực hiện bằng cách xem xét cẩn thận những yếu tố như cấu trúc câu, ngôn từ sử dụng, sự kết hợp của từng thành tố trong câu lại với nhau, Số 9289-2019 NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Brunette, L. 2000, Towards a terminology for translation quality assessment, The translator, 62, 169-182. 2. Diệp Quang Ban 1992, Ngữ pháp tiếng Việt - Tập 2, Nxb Giáo dục. 3. Colina, S. 2008, Translation quality evaluation Empirical evidence for a functionalist approach, The translator, 141, 97-134. 4. Farrokh, P. 2011, The equivalence and shift in the Persian translation of English complex sentences with wh-subordinate clauses, English language and literature studies, 12, 74-81. 5. Giang, D. T. T. 2019, A study of English-Vietnamese translations of presentations at international conferences at ICISE, Master Thesis, Quy Nhon University, Binh Dinh. 6. Han, C. 2017, Using analytic rating scales to assess English-Chinese bi-directional interpreting A longitudinal Rasch analysis of scale utility and tare behaviour, Linguistica Antverpiensia, New Series Themes in Translation Studies, 16, 196-215. 7. Han, C. 2018, Using rating scales to assess interpretation Practices, problems and prospects, Interpreting, 201, 60-96. 8. Triệu Thu Hằng 2017, Mô hình đánh giá chất lượng bản dịch và đề xuất đối với đánh giá dịch Anh-Việt, Tạp chí Nghiên cứu Nước ngoài, 335, 37-46. 9. Châu Thị Hoàng Hoa 2015, Giao tiếp liên văn hóa Việt-Anh dưới góc nhìn nhân học giao tiếp, Tạp chí khoa học Trường Đại học Trà Vinh, 18, 31-38. 10. Khalil, A. 1993, Arabic translation of English passive sentences Problems and acceptability judgements, Papers and studies in contrastive linguistics, 27. 11. Russell, D. 2005, Consecutive and simultaneous interpreting, In T. Jansen Ed., Topics in signed language interpreting pp. 135-164, Amsterdam and Philadelphia, PA John Benjamins. 12. Sultan, J. K. 2011, The translation of English conditional clauses into Arabic A pedagogical perspective, Journal of the college of arts. University of Basrah, 59. 13. Lê Hùng Tiến 2017, Về cơ sở lí luận đào tạo biên phiên dịch ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu nước ngoài, 332, 105-117. Interpretation of passive sentences at a scientific conference a case study at ICISE international conference center Abstract Translation in general and interpretation in particular are becoming increasingly popular in the trend of integration and internationalization. Because English and Vietnamese have different grammar and structure systems, translation for these two languages faces a number of obstacles. This article is a study on methods for English-Vietnamese translation of English passive sentences with the purpose of facilitating English-Vietnamese translation work. The research method used in this study is mainly qualitative techniques. The research findings show that the translation method of passive sentences that has the highest rate of good translation is to use the so-called Vietnamese passive sentences and Vietnamese active sentences. Key words translation methods; interpretation; translation-interpretation; conference interpretation; passive sentences. ResearchGate has not been able to resolve any citations for this publication. Chao HanOver the past decade, interpretation assessment has played an increasingly important role in interpreter education, professional certification, and interpreting research. The time-honored assessment method is based on analysis of paralinguistic features of interpretation including such items as omissions, substitutions, un/filled pauses and self-corrections. Recently, use of descriptor-based rating scales to assess interpretation has emerged as a viable alternative Angelelli 2009; Han 2015, 2016; J. Lee 2008; Tiselius 2009, arguably providing a basis for reliable, valid and practical assessments. However, little work has been done in interpreting studies to ascertain the assumed benefits of this emerging assessment practice. Based on 17 international peer-reviewed journals over the last twelve years 2004–2015, and other related publications scholarly books, reports, documents, this article provides an overview of practices in scale-based interpretation assessment, focusing on four major aspects a rating scales; b raters; c rating procedures; d reporting of assessment outcomes. Problem areas and possible emerging trends in interpretation assessment are examined, identifying a number of future research needs. Chao HanDescriptor-based analytic rating scales have been used increasingly to assess interpreting quality. However, little empirical evidence is available tosupport unequivocallythe effectiveness of rating scales and rater reliability. This longitudinal study therefore attempts to provide insight into scale utility and rater behaviour in the assessment of English–Chinese interpreting performance, using multifaceted Rasch measurement. Specifically, the study focuses on criterion or scale difficulty, scale effectiveness, rater severity or leniency and rater self-consistency between English–Chinese interpreting and over three time points. The research results are discussed, highlighting the utility of analytic rating scales and the variability of rater behaviour in assessing interpreting. The results also have implications for developing reliable, valid and practical instruments to assess the quality of interpreting. Tien LêBài viết bàn về vấn đề phát triển cơ sở lý luận cho đào tạo biên phiên dịch chuyên nghiệp ở Việt Nam. Phần 1 của bài viết điểm qua những nét chính trong lịch sử và hiện trạng của đào tạo biên phiên dịch viên trên thế giới và Việt Nam, những mốc thay đổi trong nhận thức và lý luận về đào tạo biên phiên dịch dẫn tới những bước phát triển về đào tạo như hiện nay. Trong phần 2, bài viết trình bày tóm tắt những khái niệm nền tảng của đào tạo biên phiên dịch như năng lực dịch thuật, năng lực biên phiên dịch viên, các loại chương tình đào tạo, đường hướng và phương pháp đào tạo, những thách thức với đào biên phiên dịch hiện nay trên thế giới và trong nước. Trên cơ sở phân tích những bất cập và yếu kém của đào tạo biên phiên dịch trong nước, bài viết đưa ra một số khuyến nghị về việc phát triển một cơ sở lý luận thích hợp cho đào tạo biên phiên dịch chuyên nghiệp ở Việt Nam. Sonia ColinaFollowing a review of existing approaches to translation quality evaluation, this paper describes a proposal for evaluation that addresses some of the deficiencies found in these models. The proposed approach is referred to as componential because it evaluates components of quality separately, and functionalist, because evaluation is carried out relative to the function specified for the translated text. In order to obtain some empirical evidence for the functionalist/componential approach, a tool was developed and pilot-tested for inter-rater reliability. In addition, the research project sought to obtain some data on qualifications of raters/users and their performance using the tool. Forty raters were asked to use the tool to rate three translated texts. The texts selected for evaluation consisted of reader-oriented health education materials. Raters were bilinguals, professional translators and language teachers. Some basic training was provided. Data was collected by means of the tool and a questionnaire. Results indicate good inter rater reliability for the tool; teachers' and translators' ratings were more alike than those of bilinguals; bilinguals were found to rate higher and faster than the other groups. The results provide support for further research and testing of this tool and offer evidence in favour of the approach BrunetteRecent research on the revision and assessment of general texts has revealed that the terms and concepts used in discussing this process are somewhat confused, hence the need to map out the terminology used in various evaluative practices. This article offers an overview of translation assessment and attempts to define the key terms specific to this field, including subfields such as translation management quality control assessment; formative revision as well as revision theory assessment criteria; purpose. Each concept and term is discussed at length and exemplified. The article focuses initially on various assessment procedures, including pragmatic revision, translation quality assessment, quality control, didactic revision, and fresh look’. For these procedures to be scientifically credible and ethically acceptable, they must be based on clearly defined criteria. Thus, the second part of the article puts forward criteria which have been delimited and duly tested in prior research, namely logic, context, purpose and language norm. Parisa FarrokhThe main purpose of this research is to find the types of equivalence and shifts in the Persian translation of English complex sentences with wh-subordinate clauses. This study uses a qualitative descriptive method. The English fictions and their Persian translations considered as source of the data. The researcher classifies the data into two main categories the equivalence and shift. The equivalence is subcategorized into formal and dynamic equivalence based on Nida's theory. In this research, four categories of shift, based on Catford's classification, which involve structure shifts, unit shifts, rank shifts and intra-system shifts, have been found. Based on 160 data, the results of this research indicated that in the Persian translation of these sentences, the shifts occur more than the equivalence, with the percentage of and the equivalence with the percentage of Quang BanDiệp Quang Ban 1992, Ngữ pháp tiếng Việt -Tập 2, Nxb Giáo study of English-Vietnamese translations of presentations at international conferences at ICISED T T GiangGiang, D. T. T. 2019, A study of English-Vietnamese translations of presentations at international conferences at ICISE, Master Thesis, Quy Nhon University, Binh TriệuHằngTriệu Thu Hằng 2017, Mô hình đánh giá chất lượng bản dịch và đề xuất đối với đánh giá dịch Anh-Việt, Tạp chí Nghiên cứu Nước ngoài, 335, translation of English passive sentences Problems and acceptability judgements, Papers and studies in contrastive linguisticsA KhalilKhalil, A. 1993, Arabic translation of English passive sentences Problems and acceptability judgements, Papers and studies in contrastive linguistics, 27.
Ai trong các bạn là fan của Bruno Mars nè!!!???Thử dịch bài tủ của ca sĩ Bruno Mars nha!!! Trong đoạn nhạc trên, mình có we’re made of…’ rồi we are called’, sao mà vừa có be’ rồi mà vừa có V3’ ta??? Đó là cấu trúc câu bị động đấy! Hôm nay, mình cùng nhau tìm hiểu cấu trúc này để ra dẻ’ là fan của Bruno Mars nha. 1. Câu bị động là gì? Passive Voice Câu bị động là câu dùng để nhấn mạnh vào người/ đối tượng chịu/ bị/ được tác động thay vì đối tượng thực hiện hành động. Trong tiếng Việt ta, câu chủ động được dùng phổ biến hơn. Còn trong tiếng Anh, câu bị động lại được dùng nhiều hơn. 2. Công thức câu bị động Aaaa, đa dạng lắm nha! Cơ mà đừng lo. Mình chỉ bí kíp nè1. Khi chuyển qua câu bị động, mình chuyển cùng thì với câu chủ động Trong bất kì câu bị động nào, mình cũng sẽ thấy một điểm chung BE + V3 Bây giờ thì, các bạn hãy cùng mình điểm qua câu bị động trong mỗi thì nha. Mình sẽ phân tích giúp các bạn thấy rõ BE + V3 ở đâu nè, để mình không cảm thấy bối rối nè. Mình sẽ hướng dẫn các bạn công thức bị động ở các thì phổ biến mà mình hay dùng nhé! TensePassive formExample Present SimpleHiện tại đơnS + is/ am/ are + not + + S + V3?She puts the book on the table. Cô ấy đặt cuốn sach trên bàn=> The book is put on the table.Cuốn sách được đặt trên bàn=> Is the book put on the table?Cuốn sách có được đặt trên bàn không?Present ContinuousHiện tại tiếp diễnS + is/ am/ are + not+ BEING + V3. Is/ Am/Are + S + being +V3?Anna is using the computer. Anna đang dùng máy tính.=> The computer is being used by Anna.Máy tính đang được dùng bởi Anna.=> Is the computer being used by Anna?Máy tính có đang được dùng bởi Anna không?Past SimpleQuá khứ đơnS + was/ were + not + + S + V3 ?Philip did not build that house.Philip đã không xây dựng căn nhà đó=> That house was not built by Philip.Căn nhà đó đã không được xây bởi Philip.=> Wasn’t that house built by Philip?Căn nhà đó có đã không được xây bởi Philip không?Past ContinuousQuá khứ tiếp diễnS + was/ were + not + being+ V3.? Was/were +S + being + V3?They were examining him carefully. Họ đã đang kiểm tra anh ấy một cách kĩ càng.=> He was being examined carefully.Anh ấy đã đang bị kiểm tra một cách kĩ càng.=> Was he being examined carefully?Anh ấy có đã đang bị kiểm tra một cách kĩ càng không?Present Perfect SimpleHiện tại hoàn thành đơnS + have/has + not + been + has + S + been + V3?They have built this building for five years.Họ xây tòa nhà này khoảng 5 năm.=> This building has been built for five years.Tòa nhà được xây khoảng 5 năm.=> Has this buidling been built for five years?Tòa nhà này được xây dựng khoảng 5 năm hả?Past Perfect SimpleQuá khứ hoàn thành đơnS + had+ not + been + + S + been + V3?The class looked nice. Someone had cleaned it. Lớp học đã trông sạch sẽ ghê. Ai đó đã lau dọn nó rồi.=> The class looked nice. It had been cleaned.Lớp học trông sạch sẽ ghê. Nó đã được lau dọn rồi.=> Had it been cleaned? Nó có đã được lau dọn rồi không?Future SimpleTương lai đơnS +will + not+ be + + S + be + V3?She will clean this room later. Cô ấy sẽ lau dọn căn phòng này sau.=> This room will be cleaned later.Phòng này sẽ được lau dọn sau.=> Will this room be cleaned later?Căn phòng này sẽ được lau dọn sau ham?Future PerfectTương lai hoàn thànhS +will + not+ have + been + + S + have + been + V3?They will have completed the test by the end of March.Họ sẽ hoàn thành bài kiểm tra vào cuối tháng Ba.=> The test will have been completed by the end of March. Bài kiểm tra sẽ được hoàn thành vào cuối tháng Ba.=> Will the test have been completed by the end of March?Bài kiểm tra có sẽ được hoàn thành vào cuối tháng Ba không?Modal SimpleĐộng từ khiếm khuyết ở thể đơnS +will/ should/ can/ may/might/ could + not+ be + should/ can… + S + be + V3?Namjin will open the door. Namjin sẽ mở cửa.=> The door will be opened by Namjin.Cửa sẽ được mở bởi Namjin.=> Will the door be opened by Namjin?Cửa có được mở bởi Namjin không?Modal ContinuousĐộng từ khiếm khuyết ở thể tiếp diễnS + will/ should/ can/ may/ might/ could+ not + be + being+ might/ could/..+ S+ be + being + V3?They might be being repaired the camera.Họ có thể đang sửa cái máy ảnh á.=> The camera might be being repaired.Cái máy ảnh có thể đang được sửa á.=> Might the camera be being repaired?Cái máy ảnh có thể đang được sửa?Modal Perfect SimpleĐộng từ khiếm khuyết ở thể hoàn thànhS +/ should/can/ may/might/ could + not+ have + been + can/ may/…+ S+ have + been + V3?She should have written that book.Cô ấy lẽ ra nên viết cuốn sách đó.=> That book should have been written. Cuốn sách đó lẽ ra nên được viết.=> Should that book have been written by her?Cuốn sách đó lẽ ra nên được viết bởi cô ấy? 3. Câu bị động với những động từ có hai tân ngữ Đã va chân’ vào thể bị động, các bạn hãy phân biệt giúp mình Nội động từ’ Intransitive verbs và Ngoại động từ’ Transitive verbs nha! Nội động từ Intransitive verbs là những động từ không có tân ngữ theo sau, mà bản thân nó đã diễn đạt đầy đủ, trọn nghĩa rồi. Chủ thể trong câu trực tiếp thực hiện hành động. Hành động không tác động đến bất kì đối tượng dụ sleep, die, smile, She has been sleeping for three hours. Cô ấy đã ngủ suốt ba tiếng rồi.Ngoại động từ Transitive verbs là những động từ diễn tả một hành động tác động đến một người hay một vật khác. Nói cách khác, ngoại động từ là những động từ sẽ có tân ngữ theo sau để làm rõ nghĩa. Ví dụ buy, open, break, pay, offer, teach, tell, show She bought a coat for her mother last week.Cô ấy đã mua một chiếc áo choàng cho mẹ của cô ấy vào tuần trước.Ngoại động từ có hai loại chính– Ngoại động từ đơn là những động từ chỉ có một tân ngữ theo dụ draw, cut, catch, Hanna caught the ball.Hanna đã chụp quả banh.=> Tân ngữ O ở đây là the ball’. Nếu không có tân ngữ, thì người đọc sẽ không rõ là Hanna đã chụp cái gì. – Ngoại động từ kép là những động từ có hai tân ngữ theo dụ buy, give, send, My mom bought me a lovely dress = My mom bought a lovely dress for me. Mẹ của tôi đã mua cho tôi một chiếc váy dễ thương= Mẹ tôi đã mua một chiếc váy dễ thương cho tôi. => Trong trường hợp này, buy’ là ngoại động từ kép, vì có hai tân ngữ theo sau là me’ và a lovely dress’. Còn trong câu My mom bought a lovely dress.’, thì buy’ là ngoại động từ đơn vì có tân ngữ theo sau là a lovely dress’. Một số động từ vừa là ngoại động từ, vừa là nội động từ stop, ring, open, read, dụ – The boy rings the bell. Thằng bé rung chuông. => ring’ trong trường hợp này là ngoại động từ vì có tân ngữ đi kèm là the bell’– The bell rings. Cái chuông rung. => ring’ trong trường hợp này là nội động từ vì không cần tân ngữ thì câu cũng đầy đủ nghĩa rồi. Giờ thì chúng ta cùng nhau xem qua cách chuyển câu bị động đối với ngoại động từ kép ngoại động từ có hai tân ngữ nhé! Ví dụ She gave the police the information. = She gave the information to the police.=> Trong câu She gave the police the information’+ tân ngữ 1 O1 là the police’+ tân ngữ 2 O2 là the information’ => Mình có hai cách để chuyển thành câu bị động+ Cách 1 Mình đưa tân ngữ 1 ra làm chủ ngữ của câu bị độngThe police were given the information. Cảnh sát đã được cung cấp thông tin.+ Cách 2 Mình đưa tân ngữ 2 ra làm chủ ngữ câu bị độngThe informatiton was given to the police. Thông tin đã được cung cấp cho cảnh sát. => Tóm lại, đối với ngoại động từ có hai tân ngữ, mình có hai cách để chuyển thành câu bị động. Một là, mình đưa tân ngữ 1 ra làm chủ ngữ câu bị động. Hai là, mình đưa tân ngữ 2 ra làm chủ ngữ câu bị động. 4. Câu bị động đối với những động từ theo sau là V-ing Các bạn cùng xem qua ví dụ với mình nhé! Ví dụ – I don’t like people TELLING me what to do. Tôi không thích những người nói tôi phải làm gì.=> I don’t like BEING TOLD what to do. Tôi không thích BỊ NÓI làm điều gì đó. – I remember my mom TAKING me to the zoo. Tôi nhớ mẹ tôi đã đưa tôi đến sở thú.=> I remember BEING TAKEN to the zoo by my mom. Tôi nhớ tôi ĐƯỢC ĐƯA đến sở thú bởi mẹ tui. 5. Câu bị động với get’ Như lúc đầu mình có đề cập, công thức chung của thể bị động là BE + V3’ Mình cũng có thể dùng GET’ thay BE’ để hình thành thể bị động GET + V3’ Ví dụ The trees in the garden were damaged in the trees in the garden got damaged in the wind. => Mình dùng GET + V3’ trong văn ít trang trọng như văn nói informal speaking. Mình có một số cụm get + V3’ như get married, get hurt, get lost, get dressed, 6. Những lưu ý khi viết câu bị động – Mình luôn nói I was born……….’ chứ KHÔNG nói I am born………….’ Ví dụ I was born in 2000. Tôi đã được sinh ra vào năm 2000. I am born in 2000. xxxxxx NOOOOOOO => Vì mình đang đề cập đến quá khứ nên, sự sinh ra của một ai đó, nên mình dùng I was born……..’ => Nhưng mình sẽ có How many babies are born every day? Có bao nhiêu bé sơ sinh được sinh ra mỗi ngày? => Vì câu này mình đề cập tới hiện tại – Trong câu bị động, thứ tự của tác nhân làm hành động By +O, thời gian và nơi chốn như sau S + Be + V3 +trạng ngữ chỉ nơi chốn + by + O + trạng ngữ chỉ thời gian – Mình dùng She DIED’, chứ KHÔNG dùng She was died’. Nhưng mình lại có She WAS KILLED.’ – Nếu tân ngữ trong câu bị động là một người mơ hồ her/him/them/it/us/ someone/ no one/ people thì mình có thể không đề cập trong câu bị động. Ví dụ Someone gave the police the evidence. The evidence was given to the police. => Vì by someone’ là đối tượng thực hiện hành động mơ hồ, không rõ ràng cụ thể là ai nên ta thường lược bỏ khi viết lại câu bị động. 7. Bài tập Bài tập 1 Chuyển các câu sang bị động 1. My dad is reparing the air-conditioner. 2. Lala sent her boy friend a gift on his birthday. 3. He stole the money in the supermarket. 4. Anna has been writing this book for three months. 5. Peter invited his friends to his wedding. Bài tập 2 Dịch các câu sau sang tiếng Anh 1. Chiếc bánh chuối này đã được làm bởi Ms. Kelly ở nhà tôi tối hôm qua. 2. Tui đã được người yêu tặng một con gấu bông nè. 3. Người yêu tui đã được tui mua cho một ly trà sữa nè. 4. Wow! Nhà vừa mới được lau xong nè! 5. Kệ sách được lau dọn mỗi ngày luôn. 6. Bài tập nhẽ ra nên được hoàn thành tối qua á. 8. Đáp án Bài tập 1 1. The air-conditioner is being repaired by my father. 2. Lala’s boyfriend was sent a gift by Lala on his birthday = A gift was sent to Lala’s boyfriend by Lala on his birthday. 3. The money was stolen by him in the supermarket. 4. This book has been being written by Anna for three months. 5. His friends were invited to Peter’s wedding by Peter. Bài tập 2 1. This banana cake was made at my house my Ms. Kelly last night. 2. I was given a teddy bear by my lover. 3. My lover was bought a cup of milk tea by me. 4. Wow! The house has just been cleaned! 5. The bookshelf is cleaned everyday. 6. The homework should have been completed last night. 9. Đố vui đầu bài! ^^ ^^ Các bạn cùng dịch thử đoạn nhạc với mình nhé! Vì một phần là lời bài hát và mình vẫn muốn giữ được nét câu bị động’ để mọi người dễ theo dõi nên mình xin được dịch hơi thoát nghĩa’ một xíu!!! Chúc các bạn học tiếng Anh tốt nhé! ^^ Ms. Huệ – Simple English Teacher
Thể bị động trong tiếng Pháp La voix passive Cùng với Học Tiếng Pháp Cap France tìm hiểu về thể bị động được dùng như thế nào trong Tiếng Pháp qua bài viết sau nha! 1. Cách thành lập thể bị động trong tiếng Pháp S + être được chia + động tính từ quá khứ + par + chủ thể của hành động Ex La télévision a été inventée par John Baird Ti-vi được phát minh bởi John Baird 2. Thể bị động - Ở thì hiện tại je suis/tu es/il, elle, on est/nous sommes/vous êtes/ ils, elles sont + động tính từ quá khứ + par + chủ thể của hành động - Ở thì quá khứ j’ai été/tu as été/il, elle, on a été/nous avons été/vous avez été ils, elles ont été + động tính từ quá khứ + par + chủ thể của hành động 3. Chú ý - Sau par không bao giờ ta dùng đại từ Ex J’ai fait ce dessin Tôi đã vẽ bức tranh này. Không nói Ce dessin a été par moi. - Ở thể bị động đối với các động từ aimer, connaître, respecter ta phải dùng phải "de" thay cho "par" Ex Cette personne est aimée de tous, connue de tous et respectée de tous. Người này được mọi người yêu thương, biết đến và tôn trọng. 4. Ở thể bị động, động tính từ trong quá khứ luôn tương hợp về giống và số với chủ ngữ. - Chúng ta dùng thể bị động khi cần nhấn mạnh bổ ngữ trực tiếp thay vì chủ thể của hành động. - Đối với người thay vì dùng hình thức bị động ta có thể dùng đại từ on Ex J’ai été envoyé en mission = On m’a envoyé en mission Tôi đã được điều đi công tác Hãy vào Cap France mỗi ngày để học những bài học tiếng pháp hữu ích bằng cách bấm xem những chuyên mục bên dưới >>> Học Tiếng Pháp Online chuyên mục này giúp bạn học từ vựng, ngữ pháp, luyện nghe, luyện nói, viết chính tả tiếng pháp >>> Kiểm Tra Trình Độ Tiếng Pháp chuyên mục này giúp bạn kiểm tra trình độ tiếng pháp >>> Khóa Học Tiếng Pháp Tại TPHCM chuyên mục này giúp bạn muốn học tiếng pháp chuẩn giọng bản ngữ, dành cho các bạn muốn tiết kiệm thời gian học tiếng Pháp với giảng viên 100% bản ngữ, đây là khóa học duy nhất chỉ có tại Cap France với chi phí ngang bằng với các trung tâm khác có giảng viên là người Việt. Rất nhiều các khóa học từ cơ bản cho người mới bắt đầu đến các khóa nâng cao dành cho ai có nhu cầu du học Pháp. Hãy có sự lựa chọn tốt nhất cho mình. Đừng để mất tiền và thời gian của mình mà không mang lại hiệu quả trong việc học tiếng Pháp. >>> Tự học Tiếng Pháp online qua trang youtube HỌC TIẾNG PHÁP NHANH - CAP FRANCE tại đây Chuyên mục giúp bạn học Tiếng Pháp mỗi ngày thông qua các video bài giảng.
câu bị động trong tiếng pháp