cách làm bệnh án thủy đậu

Sử dụng khăn mềm lau người hoặc tắm nếu như thủy đậu đã bay hết. Đây là loại lá có tác dụng giúp giảm bớt tình trạng ngứa ngáy, khó chịu khi bị bệnh thủy đậu. Bạn có thể lấy một nắm lá tre, nhưng chú ý lựa chọn loại lá sạch, đảm bảo an toàn. Đem rửa lá Vay Tiền Nhanh Iphone. Bệnh thủy đậu hay trong dân gian còn gọi là trái rạ là một căn bệnh có khả năng truyền nhiễm cao, do virus varicella zoster gây ra. Virus này có khả năng gây ra bệnh thủy đậu ở trẻ em và zona thần kinh hay giời leo ở người lớn nên còn gọi là virus thủy đậu – zona VZV. Để tìm hiểu rõ hơn về bệnh thủy đậu là gì? Các dấu hiệu, triệu chứng cũng như nguyên nhân và cách điều trị của căn bệnh này là gì? Mời bạn cùng đọc tiếp bài viết sau. Tìm hiểu chung Bệnh thủy đậu trái rạ là gì? Thủy đậu hay trái rạ là một dạng nhiễm virus cấp tính, do virus varicella zoster VZV gây ra. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, trong đó trẻ em là đối tượng dễ bị nhiễm nhất. Người bệnh sẽ có những phát ban da gây ngứa với nhiều mụn nước nhỏ, chứa đầy dịch bên trong. Sau khi nghiên cứu thành công vắc xin thủy đậu thì đó là phương pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất, đồng thời giảm được mức độ nặng của bệnh nếu lỡ bị nhiễm virus gây bệnh. Triệu chứng và dấu hiệu nhận biết Các dấu hiệu và triệu chứng thủy đậu trái rạ là gì? Tình trạng phát ban và phồng rộp da do nhiễm virus thủy đậu xuất hiện sau khoảng 10–21 ngày từ khi tiếp xúc với mầm bệnh. Sau đó, các triệu chứng thường kéo dài từ 5–10 ngày. Một số dấu hiệu và triệu chứng khác có thể xuất hiện trước 1–2 ngày có phát ban gồm Sốt Mất cảm giác ngon miệng, biếng ăn Đau đầu Mệt mỏi, khó chịu Khi phát ban đặc trưng cho thủy đậu xuất hiện, thường sẽ trải qua 3 giai đoạn Nổi các nốt sần có màu hồng hoặc đỏ, bùng phát trong vài ngày Các mụn nước nhỏ chứa đầy dịch hình thành sau khoảng 1 ngày, sau đó vỡ ra và chảy dịch Các lớp vảy hình thành bao phủ ở chỗ mụn nước bị vỡ và cần thêm vài ngày để lành hẳn tổn thương trên da này Những nốt thủy đậu mới sẽ liên tiếp xuất hiện trong vài ngày đầu nên trên da có thể tồn tại cả 3 giai đoạn trên cùng lúc. Ngoài ra, khả năng lây truyền virus sang người khác cao nhất là trong 48 giờ trước khi có phát ban. Tuy nhiên, virus vẫn lây lan được cho đến khi tất cả mụn nước trên da đều bị vỡ. Nhìn chung, căn bệnh này không quá nghiêm trọng ở bệnh nhi khỏe mạnh. Một số trường hợp nặng, phát ban có thể bao phủ toàn bộ cơ thể và tổn thương da có thể xuất hiện ở cổ họng, mắt và màng nhầy của niệu đạo, hậu môn và âm đạo. Khi nào bạn nên đến gặp bác sĩ? Nếu bạn cho rằng con mình bị thủy đậu, hãy đến cơ sở y tế gần nhất để kiểm tra. Bác sĩ sẽ thăm khám, kiểm tra các vết thương tổn trên da và kê thuốc giúp giảm bớt triệu chứng cũng như điều trị hoặc ngăn ngừa biến chứng. Để tránh lây nhiễm cho người khác, hãy cố gắng đặt lịch khám trước và thông báo tình hình của trẻ. Nhân viên y tế có thể hướng dẫn bạn cùng trẻ nghi nhiễm bệnh ngồi ở phòng chờ riêng. Nếu có các triệu chứng sau đây, hãy thông báo ngay với bác sĩ Các nốt thủy đậu lan đến mắt Vùng da phát ban trở nên đỏ, ấm hoặc đau khi ấn vào Phát ban kèm theo chóng mặt, mất phương hướng, nhịp tim nhanh, khó thở, run, mất phối hợp cơ, ho nặng, nôn mửa, cứng cổ hoặc sốt cao khoảng 39ºC Trong gia đình có người chưa tiêm phòng bệnh thủy đậu hoặc có trẻ nhỏ hơn 6 tháng Nguyên nhân gây bệnh Nguyên nhân gây bệnh thủy đậu trái rạ là gì? Tác nhân gây ra căn bệnh này là virus. Chúng có thể lây truyền thông qua tiếp xúc trực tiếp với vùng da phát ban. Ngoài ra, virus cũng lây qua việc tiếp xúc với các giọt dịch hô hấp khi ho và hắt hơi của người bệnh. Nguy cơ nhiễm phải virus và phát bệnh sẽ cao hơn ở những người chưa từng bị thủy đậu hoặc chưa tiêm vắc-xin phòng ngừa. Do đó, tất cả trẻ em và những người làm việc trong các cơ sở chăm sóc trẻ em đều cần được tiêm phòng đầy đủ. Biến chứng Bệnh thủy đậu có nguy hiểm không? Một số trường hợp bệnh thủy đậu có thể trở nên nghiêm trọng và gây ra các biến chứng như Nhiễm khuẩn ở da, mô mềm, xương, khớp hoặc nhiễm trùng máu Mất nước Viêm phổi Viêm não Hội chứng sốc nhiễm độc Hội chứng Reye ở trẻ em và thanh thiếu niên nếu dùng aspirin trong khi bị thủy đậu Tử vong Những đối tượng có nguy cơ cao gặp biến chứng thủy đậu Một vài nhóm đối tượng có khả năng cao gặp biến chứng khi bị thủy đậu là Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có mẹ chưa từng bị thủy đậu hoặc chưa tiêm vắc-xin Thanh thiếu niên và người trưởng thành Phụ nữ có thai chưa từng bị thủy đậu Người hút thuốc lá Người có hệ miễn dịch suy yếu do thuốc hóa trị hay do một bệnh lý khác ung thư, HIV… Người đang dùng thuốc steroid để điều trị bệnh hoặc vấn đề sức khỏe khác Bệnh thủy đậu và zona thần kinh giời leo Nếu đã từng bị thủy đậu, bạn có nguy cơ gặp phải zona thần kinh giời leo. Virus varicella-zoster vẫn tồn tại trong các tế bào thần kinh sau khi các tổn thương trên da đã lành hết. Sau nhiều năm, chúng có thể tái kích hoạt và gây ra bệnh zona. Người bệnh sẽ thấy xuất hiện một cụm mụn nước gây đau đớn, khó chịu dọc theo đường dây thần kinh, tồn tại trong thời gian năng. Khả năng tái hoạt này cao hơn ở người cao tuổi và những người có hệ miễn dịch kém. Cơn đau do bệnh zona có thể kéo dài rất lâu, sau khi mụn nước đã hết hoàn toàn. Tình trạng này được gọi là đau thần kinh sau zona. Chẩn đoán Chẩn đoán bệnh thủy đậu trái rạ Bác sĩ thường có thể chẩn đoán bệnh lý này dựa trên dấu hiệu phát ban và mụn nước trên da, đồng thời hỏi thăm về các triệu chứng gặp phải ở người bệnh. Nếu có nghi ngờ, họ sẽ yêu cầu thực hiện thêm xét nghiệm như xét nghiệm máu hoặc nuôi cấy mẫu da. Trong khi chẩn đoán, bác sĩ sẽ cần phân biệt giữa thủy đậu với các bệnh lý khác có triệu chứng khá tương đồng như Đậu mùa thường gây triệu chứng toàn thân nặng, mụn mọc dày, có mủ. Tuy nhiên, căn bệnh này đã chấm dứt từ năm 1980. Chốc lở bọng nước impertigo thường gây ra do vi khuẩn Streptococcus beta hemotytic nhóm A. Các tổn thương ở da xảy ra ở trẻ sau khi da bị trầy xước, tổn thương do ghẻ, chàm… rồi bị nhiễm trùng dẫn đến việc tạo ra bọng nước. Bọng nước do virus Herpes simplex thường xảy ra trên vùng da có bệnh như chàm, viêm da dị ứng. Bọng nước do Coxsackie nhóm A có thể gây bọng nước toàn thân nhưng thường gây tổn thương da ở dạng phát ban hơn là bọng nước. Điều trị Các phương pháp điều trị thủy đậu trái rạ là gì? Ở các trẻ khỏe mạnh, căn bệnh này thường tự khỏi mà không cần điều trị y khoa. Bác sĩ có thể kê đơn một số thuốc kháng histamin giúp giảm bớt ngứa ngáy, khó chịu. Nếu bạn có nguy cơ cao gặp phải biến chứng thủy đậu, bác sĩ sẽ chỉ định dùng thuốc để rút ngắn thời gian nhiễm trùng, giảm thiểu khả năng gặp biến chứng. Thuốc kháng virus có tên là acyclovir hay globulin miễn dịch dùng đường tiêm tĩnh mạch có thể được sử dụng để giảm bớt mức độ nghiêm trọng của bệnh thủy đậu, dùng trong vòng 24 giờ sau khi triệu chứng phát ban đầu tiên xuất hiện. Bác sĩ cũng khuyến cáo bạn nên đi tiêm phòng vắc-xin ngay khi nghi ngờ đã tiếp xúc với virus gây bệnh. Điều này có thể ngăn ngừa bệnh phát triển hoặc làm giảm các biến chứng có khả năng xảy ra. Điều trị biến chứng bệnh thủy đậu Nếu nhận thấy có các biến chứng, bác sĩ sẽ lên kế hoạch điều trị thích hợp. Người bệnh có khi cần dùng kháng sinh để điều trị nhiễm trùng da và viêm phổi. Viêm não nếu xảy ra thường được điều trị bằng thuốc kháng virus. Người bệnh khi có biến chứng cần nhập viện để điều trị. Các phương pháp tự chăm sóc tại nhà Trường hợp không có biến chứng, bạn có thể thực hiện các cách sau để giảm nhẹ triệu chứng thủy đậu tại nhà Tránh gãi lên vùng da có tổn thương vì có thể để lại sẹo, làm chậm lành vết thương và tăng nguy cơ bị loét, tạo điều kiện cho nhiễm trùng nặng thêm. Tắm bằng nước mát, có thể ngâm mình với bột baking soda, nhôm acetat, bột yến mạch thô để giảm bớt khó chịu. Ăn các thực phẩm mềm, dễ nuốt, có vị nhạt nếu vết loét do thủy đậu xuất hiện ở trong miệng. Sử dụng một số thuốc như thuốc kháng histamin giúp giảm ngứa hay paracetamol khi bị sốt nhẹ. Tuy nhiên, hãy nhớ hỏi ý kiến bác sĩ trước khi muốn sử dụng bất kỳ loại thuốc nào. Phòng ngừa Phòng ngừa bệnh thủy đậu Hiện nay, cách tốt nhất để phòng ngừa căn bệnh này là tiêm vắc-xin. Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh CDC, hiệu quả của vắc-xin giúp trước virus gây bệnh là gần 98% khi nhận đủ hai liều tiêm chủng theo khuyến cáo. Trường hợp bệnh vẫn phát triển ở người đã tiêm vắc-xin, mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng cũng nhẹ hơn rất nhiều so với người không tiêm phòng. Việc tiêm vắc-xin thủy đậu được khuyến cáo cho Trẻ nhỏ từ 12 tháng tuổi trở lên. Liều đầu tiên được tiêm trong độ tuổi 12–15 tháng tuổi và mũi thứ hai tiêm trong độ tuổi 4–6 tuổi. Đây là một phần trong lịch tiêm chủng cơ bản ở trẻ nhỏ. Trẻ có thể được tiêm vắc-xin thủy đậu kết hợp với vắc-xin phòng bệnh sởi, quai bị và rubella. Trẻ em trong độ tuổi lớn hơn nhưng chưa được tiêm chủng. Trẻ từ 7–12 tuổi chưa được tiêm vắc-xin cũng cần tiêm hai liều vắc-xin phòng thủy đậu, cách nhau ít nhất 3 tháng. Trẻ từ 13 tuổi trở lên chưa được tiêm phòng cũng nên hai liều vắc-xin, cách nhau ít nhất 4 tuần. Người lớn chưa được tiêm chủng và chưa bao giờ bị thủy đậu hay có nguy cơ bị nhiễm bệnh cao. Nhóm đối tượng này bao gồm nhân viên chăm sóc sức khỏe, giáo viên, người trông trẻ, quân nhân, hay người sống với nhiều trẻ nhỏ và phụ nữ đang trong độ tuổi sinh nở. Tiêm phòng ở người lớn cũng cần hai liều, tiêm cách nhau từ 4–8 tuần. Vắc-xin thủy đậu không được dùng cho Phụ nữ đang mang thai Những người có hệ miễn dịch suy yếu, như người nhiễm HIV hoặc đang dùng thuốc ức chế miễn dịch Người bị dị ứng với gelatin hoặc kháng sinh neomycin Bạn nên trao đổi với bác sĩ trước khi có ý định tiêm chủng để phòng ngừa bất kỳ căn bệnh nào. Nếu bạn có dự định mang thai, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để lên kế hoạch tiêm phòng trước khi muốn sinh con. Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi - Trưởng khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hạ Long. Thủy đậu là căn bệnh rất phổ biến và có thể xảy ra ở bất kỳ đối tượng nào. Trong đó, trẻ em là một trong những đối tượng dễ mắc thủy đậu nhất. Chính vì vậy, việc tìm hiểu về bệnh thủy đậu cũng như các biện pháp phòng tránh là vô cùng cần thiết. Vậy bệnh thủy đậu bao lâu thì khỏi? Khi bị thủy đậu có tắm được không? Hãy cùng tham khảo bài viết dưới đây để có được thông tin chính xác. 1. Bệnh thủy đậu lây truyền qua đường nào? Bệnh thủy đậu còn có tên gọi khác là phỏng rạ, trái rạ và gây ra bởi virus Varicella Zoster. Bệnh thủy đậu khá lành tính mà hầu như đứa trẻ nào cũng mắc phải một lần trong đời. Bệnh thủy đậu lây nhiễm chủ yếu do tiếp xúc trực tiếp với da hoặc lây qua đường hô thủy đậu ở cấp độ lành tính hầu như không ảnh hưởng đến sức khỏe. Các vết ban, mụn nước có thể gây ngứa rát, đỏ ửng và rất dễ để lại sẹo, gây mất thẩm nhiên, trường hợp thủy đậu chuyển sang giai đoạn biến chứng có thể gây viêm phổi, viêm da, thủy đậu xuất huyết, các bệnh lý về thần kinh thậm chí đe dọa đến tính mạng người bệnh. Thông thường, sau khi bị thủy đậu 1 lần, cơ thể sẽ sinh ra miễn dịch để chống lại bệnh. Tuy nhiên, trường hợp cơ thể có sức đề kháng yếu bệnh thủy đậu vẫn có thể tái phát trở thủy đậu sẽ trải qua 4 giai đoạn phát triển sauGiai đoạn ủ bệnh Tùy vào cơ địa mỗi người mà bệnh thủy đậu sẽ có thời gian ủ bệnh từ 1 - 2 tuần. Với những người có hệ miễn dịch yếu, phụ nữ đang mang thai hoặc người cao tuổi thời gian ủ bệnh thủy đậu có thể rút ngắn hơn rất đoạn khởi phát Giai đoạn này thường kéo dài từ 1 - 2 ngày. Lúc này, người bệnh có thể thấy cơ thể xuất hiện những nốt ban đỏ hồng, nổi mẩn ngứa kèm theo các triệu chứng chán ăn, bỏ bữa, đau nhức đầu, sốt nhẹ. Thủy đậu ở giai đoạn lành tính không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe Giai đoạn toàn phát Lúc này, người bệnh sẽ xuất hiện các nốt mụn nước mẩn đỏ, kích thước bằng khoảng hạt đậu, một số nốt có dịch đặc như mủ và lan rộng khắp cơ đoạn bình phục Tùy vào điều kiện chăm sóc và kiêng khem mà bệnh thủy đậu sẽ khỏi sau khoảng 1 tuần. Khi đó, các nốt mụn nước sẽ tự đóng vảy và bong ra. Do đó, bạn cần có cách chăm sóc đúng cách nhằm hạn chế để lại vậy, tùy vào thể trạng mà bệnh sẽ mất từ 7 đến 21 ngày để xuất hiện những triệu chứng cụ thể. Sau đó, sẽ mất thêm khoảng 7 - 10 ngày từ giai đoạn toàn phát đến khi khỏi bệnh hoàn toàn. Tuy nhiên, với những người có hệ miễn dịch yếu, thủy đậu cũng có thể kéo dài từ 2 - 3 tuần mới khỏi hẳn. 3. Khi bị thủy đậu có tắm được không? Theo kinh nghiệm dân gian, khi bị thủy đậu cần kiêng tắm và tránh gió. Tuy nhiên, bị thủy đậu có tắm được không hay phải kiêng nước hoàn toàn? Để bệnh thủy đậu nhanh khỏi, người bệnh cần tắm rửa sạch sẽ bằng nước sạch và ấm. Thủy đậu nếu không điều trị đúng cách có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm Tuy nhiên, trong quá trình tắm người bệnh cần thực hiện nhẹ nhàng, không dùng tay hoặc khăn chà sát mạnh khiến các mụn nước vỡ ra và lan rộng hơn. Khi bị thủy đậu bạn cần cắt móng tay sạch sẽ, không gãi hay cào mạnh vào vết thương gây vỡ mụn, lở ra, người bệnh nên mặc quần áo rộng rãi, chất liệu thoáng mát để tránh bí bách. 4. Bệnh thủy đậu có cần kiêng gió không? Trên thực tế, việc bật quạt hay tiếp xúc với gió không ảnh hưởng đến bệnh thủy đậu. Tuy nhiên, người bệnh chỉ nên bật quạt nhẹ nhàng để tạo không khí thoáng mát, làm ráo mồ hôi. Không nên bật quạt quá mạnh hay ra đường khi gió quá lớn sẽ khiến cơ thể bị lạnh, sức khỏe kém và bệnh tình trở nên trầm trọng hơn. 5. Một số lưu ý khi bị thủy đậu Chế độ sinh hoạt và chăm sóc cá nhân sẽ quyết định lớn đến thời gian bệnh thủy đậu bao lâu thì khỏi. Để bệnh thủy đậu nhanh khỏi và hạn chế biến chứng, người bệnh cần thực hiện một số lưu ý sauKhông ăn nhiều đồ chiên rán, nhiều dầu chế các thực phẩm làm từ bơ sữa như kem, sữa, bơ, phô mai...vì sẽ khiến cho da của bạn tiết nhiều dầu hơn, tạo điều kiện cho virus phát triển và lây nên ăn những loại trái cây chứa nhiều vitamin C. Nguyên nhân là do khi bị thủy đậu, các nốt mụn nước có thể xuất hiện cả trong khoang miệng. Nếu ăn nhiều hoa quả chứa nhiều vitamin C sẽ khiến vết thương đau và lở loét ăn những thực phẩm cay, nóng, mặn vì dễ gây kích ứng lên các vết đi đến những chỗ đông người để hạn chế lây lan sang người sử dụng chung đồ cá nhân như quần áo, khăn tắm, khăn mặt với người đang bị thủy bệnh cần giặt đồ kỹ, không giặt chung với quần áo của những thành viên khác trong gia áo giặt xong cần phơi ở nơi có nắng, thoáng mát và là ủi phòng tránh bệnh thủy đậu lây lan, người bệnh cần chủ động cách ly với mọi người để chữa trị bệnh mau khỏi. Đồng thời, những người chưa bị thủy đậu đặc biệt là trẻ nhỏ và phụ nữ chuẩn bị có kế hoạch mang thai cần tiêm phòng thủy đậu để bảo vệ sức khỏe cho người mẹ và thai nhi. Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec cung cấp dịch vụ tiêm phòng vacxin phòng ngừa thủy đậu cũng như các bệnh truyền nhiễm khác như sởi, quai bị cho mọi lứa tuổi và tình trạng sức khỏe của từng khách hàng với tiêu chuẩn chất lượng và an toàn với người bệnh. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Tầm quan trọng của tiêm vắc-xin đúng lịch Theo khuyến cáo của các chuyên gia y tế, ngay cả trong thời điểm có dịch bệnh, phụ huynh vẫn nên đưa con đi tiêm vắc xin đúng lịch. Việc trì hoãn lịch tiêm có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh đã được loại trừ hoặc khiến các bệnh truyền nhiễm, bội nhiễm như cúm, sởi, thủy đậu, viêm họng, viêm phổi...trở nên nặng hơn và khó điều trị vòng 5 năm đầu đời trẻ mới xây dựng được hệ miễn dịch hoàn thiện vì vậy tiêm chủng đầy đủ là một cách tăng cường sức đề kháng hiệu quả với trẻ. Cha mẹ cần lưu ý khi đưa trẻ đi tiêm phòng tuân thủ đúng những khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới WHO và Bộ y tế như đeo khẩu trang đúng cách, rửa tay thường xuyên bằng dung dịch sát khuẩn. Ngoài ra các phụ huynh luôn cập nhật thông tin đúng đủ về chủng Covid -19 này để bảo vệ bản thân và gia đình khỏi Virus khu vực không có dịch các mẹ vẫn có thể cho bé đi tiêm phòng theo lịch tiêm chủng phù hợp với lứa tuổi, nhưng tránh những nơi tụ tập đông người, nên đặt lịch hẹn trước tránh không phải chờ đợi và đến cơ sở y tế tin tưởng cơ sở vật chất đảm bảo.>> Xem thêm Có nên trì hoãn việc tiêm chủng trong đợt dịch Covid-19? được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ chuyên khoa II Quách Nguyễn Thu Thủy - Trung tâm Nhi - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City Bài viết tổng hợp nguồn từ Bộ Y tế XEM THÊM Bệnh thủy đậu Nguyên nhân, triệu chứng, biến chứng và cách điều trị Cách phân biệt bệnh sởi và bệnh thủy đậu 3 dấu hiệu cảnh báo bệnh tay chân miệng giai đoạn nặng ở trẻ nhỏ Dịch vụ từ Vinmec Bệnh thủy đậu còn gọi là bệnh trái rạ từng bị nhầm lẫn với bệnh đậu mùa suốt thời gian dài cho đến tận thế kỷ 19. Bệnh phổ biến ở trẻ em dưới 10 tuổi và bắt đầu giảm mạnh từ năm 1970 khi có các nhà khoa học tìm ra được vắc xin ngừa thủy đậu. Vậy bệnh thủy đậu là gì? Thuỷ đậu là gì? Thủy đậu là bệnh nhiễm trùng do vi rút varicella-zoster gây ra. Vi rút này có kích thước khoảng 150- 200mm, với nhân là AND. Người mắc bệnh sẽ phát ban, nổi mụn nước nhỏ có chứa đầy dịch, gây ngứa. Bệnh rất dễ lây cho những người chưa được tiêm vắc xin hoặc chưa từng nhiễm vi rút varicella-zoster. Bệnh thủy đậu được mô tả từ thời cổ đại nhưng y học thời bấy giờ cho rằng đây là dạng bệnh đậu mùa nhẹ. Mãi đến năm 1765, nhà khoa học Vogel đặt tên bệnh thủy đậu là Varicella. Năm 1767, bác sĩ người Anh William Heberden đã chứng minh bệnh đậu mùa khác với bệnh thủy đậu. Lần đầu tiên, bệnh thủy đậu được mô tả có bệnh cảnh lâm sàng riêng biệt. Tiếp tục vào năm 1875, nhà khoa học Rudolf Steiner cho thấy bệnh thủy đậu là bệnh truyền nhiễm. Cuối cùng bệnh thủy đậu được nhà khoa học Thomas Weller phân lập được virus varicella vào năm 1954. Nhà vi rút học Nhật Bản Michiaki Takahashi chính là người đã phát triển trực tiếp vắc xin thủy đậu vào năm 1972. Các mụn nước bệnh thủy đậu Nguyên nhân gây bệnh thuỷ đậu Đây là bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây trực tiếp qua đường hô hấp như ho khan, hắt xì và lây gián tiếp khi tiếp xúc với nước miếng, dịch tiết, chất lỏng từ mụn nước. Vi rút gây bệnh bằng cách xâm nhập vào niêm mạc đường hô hấp trên miệng, hầu họng và cũng có thể là đường tiêu hoá, kết mạc mắt nhưng hiếm gặp. Vi rút varicella-zoster có thể lây cho những người xung quanh chỉ trong 1 – 2 ngày trước khi người bệnh xuất hiện mụn nước. Vi rút gây bệnh thủy đậu chỉ ngừng lây khi tất cả các mụn nước đã đóng vảy. Và các nhà khoa học đã hồi cứu và nhận thấy hầu hết nguyên nhân gây bệnh thủy đậu là do tiếp xúc với người bệnh. 1 Triệu chứng bệnh thuỷ đậu qua từng giai đoạn Sau 10 – 21 ngày tiếp xúc với vi rút varicella-zoster, người bệnh có triệu chứng nổi mụn nước trên da niêm mạc, ngứa do nhiễm trùng, phát ban, ban mọc thành nhiều đợt cách nhau 3-4 ngày. Bệnh thủy đậu thường kéo dài khoảng 5 – 10 ngày. Ngoài ra, người bệnh còn có thể gặp các dấu hiệu bệnh thủy đậu như Sốt, ăn mất ngon, đau đầu, mệt mỏi và cảm giác khó chịu trong người. 2 Giai đoạn ủ bệnh Vi rút gây bệnh thủy đậu có thời gian ủ bệnh từ 2 đến 3 tuần. Tùy thuộc vào sức đề kháng và đối tượng nhiễm bệnh mà thời gian ủ bệnh ở mỗi người không giống nhau, trung bình kéo dài từ 10 – 20 ngày. Giai đoạn phát bệnh Khi bắt đầu phát bệnh, người bệnh có biểu hiện mệt mỏi, nhức đầu, đau cơ, chán ăn, nôn ói, sốt nhẹ, chảy nước mũi, đau họng. Và 1 – 2 ngày sau đó, trên da người bệnh sẽ xuất hiện các mẩn ngứa màu đỏ khắp các vùng da, với đường kính vài mm, bắt đầu ở vùng đầu, mắt rồi lan ra toàn thân. Một số người bệnh còn xuất hiện hạch sau tai, viêm họng. Giai đoạn toàn phát Các mụn nước hay còn gọi là ban dạng phỏng nước xuất hiện nhanh chóng trong vòng 1 ngày sau đó. Ban đỏ chuyển thành mụn nước hình tròn, với đường kính 1-3mm, chứa chất dịch bên trong màu trắng hoặc trắng đục, nếu bội nhiễm vi khuẩn thì dịch sẽ kèm theo mủ. Ban mọc nhiều ở vùng ít bị tì đè như vùng liên bả, bên sườn, nách, kheo, có khi dày đặc ở mặt và thân mình, chân tay thì ít ban hơn. Ban đỏ mọc nhiều đợt trên cùng một vùng da, do đó người bệnh sẽ thấy ban mọc ở nhiều mức độ khác nhau từ nốt sẩn, bọng nước trong, bọng nước đục hoặc đóng vảy. Người mắc bệnh thủy đậu có thể nổi từ vài mụn nước cho đến hàng trăm mụn nước trên cơ thể. Một khi phát ban thủy đậu xuất hiện, nó sẽ có màu màu hồng hoặc đỏ sẩn. Các mụn nước nhỏ chứa đầy chất lỏng mụn nước, hình thành trong khoảng 1 ngày, sau đó vỡ và rỉ dịch. Sau đó, các mụn nước bị vỡ mất thêm vài ngày để lành vết thương. Trong thời gian đó, các mụn nước mới tiếp tục xuất hiện Bệnh thủy đậu thường nhẹ ở trẻ em khỏe mạnh nhưng ở một số ca, ban có thể bao phủ toàn bộ cơ thể, có thể hình thành tổn thương ở cổ họng, mắt và niêm mạc niệu đạo, hậu môn và âm đạo. Giai đoạn hồi phục Bệnh kéo dài từ 7 – 10 ngày, vảy tiết thường rụng sau 1-3 tuần. Nếu bệnh thủy đậu không có biến chứng thì các mụn nước sẽ khô dần, bong vảy, thâm da nơi nổi mụn nước, không để lại sẹo. Nhưng nếu người bệnh bị nhiễm trùng mụn nước thì sẽ có thể để lại sẹo, đặc biệt nếu bị bội nhiễm, một số có nền hơi lõm, có thể thành sẹo một thời gian dài hay sẹo vĩnh viễn. Đối tượng nào có nguy cơ nhiễm bệnh thuỷ đậu Thời kỳ lây truyền bệnh thủy đậu của vi rút varicella-zoster là 1-2 ngày trước khi phát ban và cho đến khi tất cả các mụn nước vỡ đóng vảy. Vậy đối tượng nào có nguy cơ nhiễm bệnh thủy đậu? Bệnh thủy đậu xảy ra phổ biến ở trẻ dưới 10 tuổi, nhưng điều này không có nghĩa người lớn không mắc bệnh. Tất cả mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh thuỷ đậu và trẻ em từ 6 tháng tuổi đến 7 tuổi là đối tượng dễ nhiễm vi rút nhất. Riêng ở người lớn trên 20 tuổi thì tỷ lệ mắc bệnh thủy đậu ít hơn, khoảng 10% do đã có miễn dịch. Người đã mắc bệnh thủy đậu thì thường có miễn dịch miễn dịch bền vững suốt đời, tuy nhiên cũng có khoảng 1% tái nhiễm. Một số người có thể bị thủy đậu nhiều hơn một lần trong đời, nhưng trường hợp này rất hiếm. Với những người đã tiêm vắc xin thủy đậu mà vẫn mắc bệnh thì các triệu chứng bệnh thường nhẹ hơn, ít mụn nước và nhẹ hoặc không sốt. Biến chứng nguy hiểm bệnh thuỷ đậu có thể gặp? Từ thời xa xưa, bệnh thủy đậu từng được xem là bệnh đậu mùa nhẹ, điều này chứng minh cho việc bệnh được xếp vào nhóm bệnh nhẹ. Tuy nhiên, bệnh vẫn có thể trở nên nghiêm trọng ở người bệnh không được chăm sóc y tế, không tuân theo hướng dẫn của bác sĩ điều trị. Một số biến chứng bệnh thủy đậu có thể gây nguy hiểm có thể kể đến như 3 Nhiễm khuẩn da, mô mềm, xương, khớp và nhiễm trùng máu là biến chứng thường gặp nhất. Chính các vết mụn nước vỡ ra, lại ngứa khó chịu nên nhiều người dùng tay bẩn “xâm phạm” vết thương hoặc vệ sinh không đúng cách dẫn đến chảy máu bên trong, nhiễm trùng. Đây là biến chứng thường gặp ở trẻ nhỏ không “kìm chế” được mụn nước đang ngứa ngáy khó chịu. Viêm não là biến chứng có thể xảy ra ở trẻ em và người lớn nhưng người lớn gặp nhiều hơn, có thể tử vong nếu không điều trị kịp thời. Biến chứng thường xuất hiện sau 1 tuần người bệnh nổi mụn nước. Khi gặp biến chứng này, người bệnh có thể kèm theo các triệu chứng sốt cao, hôn mê, co giật, rối loạn tri giác, rung giật nhãn cầu. Biến chứng này có thể gây tử vong nếu không chữa trị kịp thời. Viêm phổi thủy đậu với biểu hiện ho nhiều, ho ra máu, khó thở, tức ngực là biến chứng thủy đậu thường xảy ra ở người trưởng thành, vào ngày thứ 3 – 5 sau khi bệnh khởi phát. Viêm thận, viêm cầu thận cấp cũng là biến chứng do thủy đậu gây ra, ban mọc muộn vào ngày thứ 3, thứ 4 của bệnh. Dấu hiệu dễ quan sát nhất là người bệnh đi tiểu ra máu, suy thận. Viêm khớp tràn dịch cũng gặp ở các thể nặng, các khớp có viêm và tràn dịch, ít khi thành mủ. Chưa kể, ở một số trường hợp, bệnh thuỷ đậu có thể kết hợp với một bệnh truyền nhiễm khác cùng xuất hiện như bạch hầu, ho gà, sởi. Khi mắc cùng lúc nhiều dạng bệnh này thì tình trạng người bệnh thường nặng lấn át lâm sàng bệnh thuỷ đậu. Nếu một người đã bị thủy đậu vẫn có nguy cơ bị một biến chứng khác, đó là bệnh zona. Vi rút gây bệnh thủy đậu varicella-zoster vẫn còn tồn tại trong các tế bào thần kinh sau khi vết mụn nước nhiễm trùng trên da đã lành. Nhiều năm sau, nếu cơ thể lớn tuổi hoặc hệ miễn dịch suy yếu thì vi rút đó có thể tái hoạt động và tái phát thành bệnh zona – một đám mụn nước gây đau đớn trong thời gian ngắn. Cơn đau do giời leo có thể kéo dài sau khi mụn nước này biến mất. Triệu chứng đau này được gọi là chứng đau dây thần kinh dạng postherpetic và có thể nghiêm trọng. Ngoài ra, người bệnh thủy đậu có thể gặp một số biến chứng như viêm tai giữa và tai ngoài, viêm niêm mạc miệng, viêm cơ tim, viêm hạch lympho, viêm dây thần kinh, hội chứng Croup giả, viêm thanh quản do các nốt mụn thủy đậu mọc ở khu vực này gây lở loét, nhiễm trùng gây sưng tấy. Hay biến chứng mất nước, hội chứng sốc nhiễm độc, hội chứng Reye ở trẻ em và thanh thiếu niên dùng thuốc aspirin trong điều trị bệnh thủy đậu. Những đối tượng dễ bị biến chứng khi mắc thủy đậu gồm Trẻ sơ sinh có mẹ chưa từng bị bệnh thủy đậu hoặc chưa chủng ngừa; thai phụ chưa mắc bệnh, người suy yếu miễn dịch như HIV, hóa trị, dùng thuốc ức chế miễn dịch, hen suyễn,… Bệnh thuỷ đậu có lây không? Bệnh thủy đậu do vi rút varicella-zoster lây truyền, chủ yếu khi thời tiết ấm nồm như mùa xuân, là thời điểm thuận lợi cho bệnh lây lan cấp tính. Vi rút có thể lây lan khi tiếp xúc trực tiếp với vùng phát ban. Hoặc vi rút lây lan khi người bị bệnh thủy đậu ho hoặc hắt hơi và người lành hít phải các giọt không khí chứa vi rút. Riêng thai phụ bị thủy đậu 5 ngày trước sinh hoặc 2 ngày sau sinh có thể lây nhiễm thủy đậu từ mẹ sang con, thai nhi sinh ra có thể bị khuyết tật hoặc tử vong. Nhiều bằng chứng y khoa ghi nhận, trẻ sơ sinh nhẹ cân và bất thường về tay chân thường gặp hơn khi thai phụ mắc thủy đậu. Khi người mẹ bị nhiễm thủy đậu trong tuần trước khi sinh hoặc trong vài ngày sau khi sinh, thai nhi không chỉ có nguy cơ cao bị nhiễm trùng nghiêm trọng mà còn đe dọa tính mạng như thai chết lưu. Do đó, với phụ nữ đang mang thai cần kiểm tra sức khỏe xem có mắc bệnh thủy đậu chưa, để bác sĩ theo dõi thai kỳ và có hướng xử lý kịp thời. 4 Nếu bạn đang mang thai và không có miễn dịch với bệnh thủy đậu, hãy nói chuyện với bác sĩ về những rủi ro đối với bạn và thai nhi của bạn. Phương pháp chẩn đoán bệnh thuỷ đậu Xét nghiệm để phát hiện bệnh thủy đậu. Để chẩn đoán bệnh thủy đậu, trước hết bác sĩ thường loại trừ một số bệnh có triệu chứng hoặc biến chứng gần giống bệnh thủy đậu gây ra như chốc lây dạng bọng nước, Herpes simplex lan tràn, Eczema dạng ecpét, Eczema do vaccine, nhiễm Rickettsia, nhiễm enterovirus. Việc chẩn đoán bệnh thủy đậu chủ yếu dựa vào các dấu hiệu lâm sàng như người bệnh chưa tiêm vắc xin và chưa mắc thuỷ đậu, người bệnh bị lây nhiễm vi rút trong khoảng thời gian từ 2 – 3 tuần trước đó,… Ngoài ra, người bệnh còn được thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng như bạch cầu máu ngoại vi giảm, lympho bào tăng, miễn dịch huỳnh quang, soi tìm vi rút, phân lập vi rút, xét nghiệm chẩn đoán huyết thanh,… Phương pháp điều trị bệnh thuỷ đậu Bạn đi gặp bác sĩ để khám bệnh nếu gặp những dấu hiệu như có tiếp xúc người bệnh thủy đậu, mệt mỏi, nhức đầu, đau cơ, chán ăn, nôn ói, sốt nhẹ, chảy nước mũi, đau họng, nổi mẩn ngứa màu đỏ khắp các vùng da. Đặc biệt là phát ban lan sang một hoặc cả hai mắt., phát ban rất đỏ, ấm hoặc mềm thì có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng da thứ phát do vi khuẩn. Hoặc phát ban kèm theo chóng mặt, mất phương hướng, tim đập nhanh, khó thở, run, các cơ mất phối hợp, ho, nôn mửa, cứng cổ hoặc sốt cao trên 38,9 độ C. Với bệnh thủy đậu hiện nay, bên cạnh việc điều trị triệu chứng, bác sĩ sẽ cho sử dụng thuốc để người bệnh mau hồi phục. Cụ thể, trẻ nhỏ thường mau khỏi bệnh nên thường điều trị triệu chứng, giảm đau, ngứa và ngăn không cho trẻ gãi để tránh nguy cơ nhiễm trùng. Thay vào đó, khi trẻ bị ngứa ngáy, bác sĩ hoặc phụ huynh dùng gạc ướt để làm sạch vết thương, sử dụng thuốc kháng histamin toàn thân,… Thuốc kháng khuẩn không nên được áp dụng trừ khi các tổn thương bị nhiễm trùng; nhiễm trùng do vi khuẩn phải được điều trị bằng kháng sinh. Với trẻ từ 12 tuổi trở lên, việc điều trị bằng thuốc valacyclovir hoặc famciclovir. Với bệnh nhân suy giảm miễn dịch hoặc người có diễn tiến nặng, bác sĩ có thể cho dùng đường tĩnh mạch acyclovir. Thuốc điều trị Người bệnh thủy đậu thường được điều trị bằng thuốc kháng vi rút, thuốc giảm đau, thuốc hạ sốt, các vitamin,… Thuốc điều trị như valacyclovir, famciclovir hoặc acyclovir dùng cho người bệnh có nguy cơ mắc bệnh từ trung bình đến nặng. Cụ thể, với thuốc dùng điều trị bệnh thủy đậu là famciclovir 500mg, mỗi ngày 3 lần. Hoặc thuốc valacyclovir 1g, mỗi ngày 3 lần 3 lần mỗi ngày cho người lớn. Thuốc acyclovir là một lựa chọn thứ yếu vì khả năng sinh khả dụng qua đường uống thấp, nhưng nó có thể sử dụng được ở liều 20mg/kg, với 4 lần/ngày và có thể sử dụng trong 5 ngày cho trẻ em từ 2 tuổi và ≤ 40kg. Liều cho trẻ em nặng trên 40kg là 800mg 4 lần mỗi ngày trong 5 ngày. Trẻ vị thành niên và người lớn có thể uống acyclovir uống với liều 800mg 5 lần/ngày. Trẻ em trên 1 tuổi bị suy giảm miễn dịch cũng nên dùng acyclovir 20mg/kg, mỗi 8 giờ qua đường tĩnh mạch. Người lớn suy giảm miễn dịch cần được điều trị với acyclovir 10 đến 12 mg/kg đường tĩnh mạch mỗi 8 giờ. Với thai phụ đối diện nguy cơ cao biến chứng thủy đậu, có thể uống acyclovir hoặc valacyclovir. Thuốc acyclovir tiêm tĩnh mạch được khuyến cáo cho bệnh thủy đậu nghiêm trọng ở thai phụ. Ngoài ra, người bệnh được uống thuốc hạ sốt có hoạt chất paracetamol, thuốc an thần chống co giật gardenal, seduxen, canxi bromua 3%,… thuốc chống ngứa bằng các thuốc kháng histamin như dimedrol 1%… Nếu người bệnh bị bội nhiễm sẽ được dùng kháng sinh thích hợp. Người bệnh có thể được khuyến cáo tiêm thuốc chủng ngừa bệnh zona Shingrix. Thuốc này được chấp thuận và khuyên dùng cho những người từ 50 tuổi trở lên. Điều trị tại nhà Khi điều trị tại nhà, người bệnh tuân thủ điều trị của Khi có sốt cao, người bệnh uống thuốc hạ sốt, vitamin nhóm B, C,… Phụ huynh có thể chấm dung dịch xanh methylen hoặc thuốc tím 1/4000 vào các nốt loét. Thông thường, bệnh thủy đậu của trẻ em, và trẻ dễ dàng vượt qua. Trong quá trình điều trị tại nhà, người bệnh cần đề phòng và phát hiện sớm biến chứng để nhập viện kịp thời. Những lưu ý khi điều trị thuỷ đậu Việc điều trị thủy đậu tại bệnh viện hay tại nhà cần tuân thủ lời dặn bác sĩ. Ngoài việc sử dụng thuốc điều trị đúng phác đồ, còn cần phải chế độ ngủ nghỉ, ăn uống thanh đạm để tránh biến chứng, để lại sẹo xấu,… Chế độ sinh hoạt Bệnh nhân mắc thủy đậu cần có chế độ sinh hoạt và vệ sinh thân thể như sau Tắm thường xuyên, giữ vệ sinh quần áo lót cũng như vệ sinh tay. Cắt móng tay thường xuyên để ngăn ngừa nhiễm khuẩn thứ phát. Dùng nước muối sinh lý để vệ sinh răng miệng, vệ sinh tai mũi họng, luôn giữ cho da khô sạch, không để trẻ gãi gây vỡ mụn nước. Mặc quần áo mềm sạch để các mụn nước không gây nhiễm trùng, ngứa ngáy cho trẻ. Người bệnh thủy đậu cần ăn thức ăn lỏng như Cháo, nui, trái cây,… Tại khu vực phòng bệnh tại nhà phải thoáng khí, tránh gió lùa. Người bệnh không nên trở lại trường học hoặc làm việc cho đến khi những tổn thương cuối cùng đã đóng vảy. Dinh dưỡng hàng ngày Nếu kiêng khem, ăn uống đúng cách thì chỉ 5 ngày sau khi xuất hiện các mụn nước sẽ vỡ ra, đóng vảy và bong hết. Do đó, dinh dưỡng cho người bệnh thủy đậu rất quan trọng. Thực phẩm nên ăn Người bệnh ăn thức ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng, thức ăn lỏng, dễ tiêu hóa như cháo đậu xanh, cháo gạo lứt, nui, măng tây, trứng, chuối, đậu đỏ, đậu xanh, đậu đen, khoai tây, cà rốt, củ cải trắng, bí đao, rau bồ ngót, rau sam, rau má, khổ qua, rau dền, cải thảo,… Đồng thời, người tăng cường các vitamin C để tăng sức đề kháng, chống nhiễm trùng, đẩy nhanh quá trình sản sinh collagen, phòng ngừa sẹo lõm như Chanh, cam, bơ, dâu tây, kiwi, lê, dưa hấu, dưa leo, cà chua,… Thực phẩm không nên ăn Người bệnh thủy đậu nên tránh các thức ăn nhiều dầu, mỡ, thức ăn nóng như gừng, hành, tỏi, hành tây, tỏi tây, ớt, hạt tiêu, thì là, cà ri, mù tạt, rau mùi, trái vải, xoài chín. Hoặc các loại thịt quá nhiều đạm như thịt dê, thịt gà, ngỗng, lươn, tôm, cua, sò, ốc,… Xem thêm Tổng hợp những căn bệnh về virus và kí sinh trùng Các biện pháp phòng tránh bệnh thuỷ đậu Tiêm vắc xin để ngừa thủy đậu Cách phòng bệnh thủy đậu hiệu quả nhất là tiêm vắc xin. Kể từ năm 1970, khi nhà khoa học Nhật Bản đã tìm ra được vắc xin thủy đậu thì bệnh đã được đẩy lùi rõ rệt. Các chuyên gia ước tính 98% trường hợp tránh được thủy đậu là nhờ vắc xin phòng bệnh quá hiệu quả. Hiện nay vắc xin ngừa thủy đậu được “tích hợp” chung với vắc xin ngừa sởi, quai bị Mũi 1 Tiêm khi trẻ trên 1 tuổi. Mũi 2 Trẻ từ 1 – 13 tuổi Tiêm cách mũi 1 tối thiểu 3 tháng. Trẻ 13 tuổi trở lên Tiêm cách mũi 1 ít nhất 1 tháng. Khi tiếp xúc với người đang mắc bệnh thủy đậu mà bản thân chưa tiêm ngừa vaccine thủy đậu, cần tiêm chủng trong 3 ngày sau đó. Trường hợp nếu người bệnh đã mắc thủy đậu và được trung tâm Xét nghiệm chẩn đoán khẳng định là bị bệnh thủy đậu thì không cần tiêm vắc xin bệnh thủy đậu nữa. Trên đây là một số thông tin tổng quản về bệnh thủy đậu, hy vọng nó giúp ích được cho bạn. Hãy chủ động phòng ngừa và đẩy lùi thủy đậu ngay từ hôm nay. HÀNH CHÁNHHọ và tên BN Hồ T. Tuổi 30 Giới tính NamNghề nghiệp Thợ hồĐịa chỉ Q. Cái Răng, ThơKhoa Nhiễm – Bệnh viện đa khoa TW Cần ThơLÝ DO NHẬP VIỆN Nổi mụn nước toàn thânBỆNH SỬBN nhập viện ngày thứ 4 của Buổi chiều, BN độ ngột cảm thấy nóng ngườikhông cặp nhiệt, mệt, không đau nhức cơ, không vã mồ hôi không uống thuốc, không ho, không sốt không buồn nôn, đại tiện, tiểu tiện chưa ghi nhận bất BN còn sốt nhẹ với tính chất tương tự. xuất hiện thêm 1 vài chấm đỏ rải rác trên ngực và bụng, không đau không ngứa, đường kính 1- 3 mmN3 – N4 Bệnh nhân hết sốt, trên nền chấm đỏ xuất hiện mụn nước trong, không đau, không ngứa, sau lan lên vai và lưng rồi lan ra toàn thân , một vài mụn nước chuyển từ trong sang đục bệnh nhân lo lắng nên đi khám tại bệnh viện đa khoa TW Cần Thơ và được cho nhập việnTình trạng lúc nhập việnBệnh tỉnh, tiếp xúc tốtNổi nhiều mụn nước trong và đục toàn thân, chưa vỡSinh hiệuMạch 80l/p Nhiệt độ 37oC Huyết áp 110/70 mmHgNhịp thở 20l/p SpO2 95%Diễn tiến bệnh phòng N5 của bệnhBệnh tỉnh, tiếp xúc tốtSốt 39oCMụn nước đục và trong rải rác toàn thânTIỀN CĂNBản thânNội khoa Chưa ghi nhận bệnh lý liên quanNgoại khoa Chưa ghi nhận bệnh lý liên quanThói quen Hút thuốc lá khôngRượu bia thỉnh thoảngDị ứng Chưa ghi nhậnGia đình Chưa ghi nhận các bệnh lý liên quanDịch tễ họcChưa chích ngừa thuỷ đậu và chưa từng bị thuỷ đậuKhu vực sống xung quanh không ai mắc triệu chứng tương tựLƯỢT QUA CÁC CƠ QUAN Khám N5 của bệnhTổng trạng Bệnh tỉnh, tiếp xúc tốtDa Sang thương mụn nước trong và đục, không đau, không ngứaTiêu hoá không đau bụngTai – Mũi – Họng Không ù tai, không chảy dịch, không nghẹt mũi, không đau họng hay khàn tiếngTim mạch không đau ngực, không đánh trống ngựcHô hấp không hoTiết niệu tiểu gắt buốt, nước tiểu vàng trongThần kinh không đau đầuCơ xương khớp không yếu liệt, đau nhức khớpKHÁM LÂM SÀNG Khám N5 của bệnhKhám toàn trạngMạch 80 l/p Huyết áp 120/70 mmHg Nhiệt độ 39 oCNhịp thở 20 l/p SpO2 96% khí phòngBMI 22 Chiều cao 1m65, Cân nặng 60kg—> Tổng trạng trung bìnhBệnh tỉnh, tiếp xúc tốtDa sang thương nhiều lứa tuổi tập trung ở mặt, ngực, bụng gồm sẩn hồng ban khoảng 2mm, mụn nước trong và đục, đa số là mụn nước đục, hình tròn, khoảng 2mm, trên viền hồng ban 3mm, chắc. Tay và chân ít sang thương hơn, chủ yếu là mụn nước trong, khoảng 2 mmTuyến giáp không toHạch ngoại vi sờ không chạmKhám tuần hoàn*Khám timLồng ngực cân đối, không sẹo mổ cũMỏm tim ở khoang liên sườn 5 đường trung đòn tráiPhản hồi gan tỉnh mạch – cổ -Không rung miu, dấu Harze -T1, T2 đều rõ, 82 l/p, không âm thổi, không T3, T4*Khám mạch máuMạch quay cánh tay đều, rõ tần số 82 lần/phútMạch mu chân T yếu, khó bắt hơn PKhám hô hấpLồng ngực di động đều theo nhịp thở, các khoảng gian sườn không giãn rộng, không co kéo cơ hô hấp phụRung thanh đều 2 bênGõ trongKhông raleKhám tiêu hoáBụng cân đối, di động đều theo nhịp thở, không tuần hoàn bang hệ, không dấu sao mạchNhu động ruột 6 l/pGõ trongBụng mềm, ấn không đauGan – lách sờ không chạmKhám thận – tiết niệu – sinh dụcẤn điểm niệu quản không đauChạm thận -Bập bềnh thận -Khám thần kinhBệnh tỉnh, trả lời chính xác bản thân, không gian, thời gianKhông mất chức năng ngôn ngữKhông có dấu thần kinh khu trúKhám dấu màng não Cổ mềm, Brudzinski -, Kernig -Khám cơ – xương – khớpTay chân 2 bên đều nhau, không phùKhông biến dạng khớpCác khớp không sưng, nóng, đỏ, đauKhám các cơ quan khác Sơ bộ chưa ghi nhận bất thườngTÓM TẮT BỆNH ÁNBN nữ, 30 tuổi, nhập viện vì nổi mụn nước toàn thân. Qua hỏi bệnh, tiền sử và khám lâm sàng ghi nhậnSốt 39oCMun nước trong và đục toàn thânTiểu gắt buốtDịch tễ Chưa chích ngừa thuỷ đậu và chưa từng bị thuỷ đậuCHẨN ĐOÁNChẩn đoán sơ bộ Thuỷ đậu N5 bội nhiễm da/ Nhiễm trùng tiểuChẩn đoán phân biệtZona do Herpes virus/ Nhiễm trùng tiểuBIỆN LUẬN CHẨN ĐOÁNBN sốt kèm xuất hiện sang thương mụn nước toàn thân nên nghĩ đến các nhóm bệnh thuỷ đậu, bệnh Zona do điểm sang thương trên BN này là rải rác khắp bụng, lưng, ngực chứ không có xu hướng mọc thành từng chùm, từng nhóm. Tiền triệu BN cũng không có cảm giác ngứa, rát ở vùng da sẽ nổi mụn nước mà BN có cảm giác ngứa sau khi các mụn nước đã hình thành. Tiền căn ở BN này chưa được ghi nhận có đợt nổi mụn nước tương tự như lần này nên không nghĩ BN đã từng bị Herpes. Đặc điểm sang thương , tiền triệu và tiền sử không hướng đến chẩn đoán nhiễm Herpes nên ta loại trừ nguyên nhân do Herpes virus bệnh nhân này ta có giai đoạn khởi đầu sốt nhẹ, mệt mỏi, ngực xuất hiên những hồng ban rải rác đường kính 2mm, sau đó xuất hiện những mụn nước từ trên nền hồng ban lan dần theo hướng li tâm lên vai, lưng và lan ra toàn thân, mụn nước chuyển từ trong sang đục sau 2 ngày đồng thời mụn nước nhiều lứa tuổi rải rác khắp cơ thể nên ta nghĩ nhiều nhiều tới thủy đậu, tuy bệnh nhân chưa ghi nhận tiếp xúc với người bệnh thủy đậu trong thời gian gần đây nhưng không thể loại trừ vì lâm sàng phù hợp và tiền căn chưa chích ngừa thủy bệnh nhân không đau không ngứa ở vị trí các nốt đâu nhưng ta vẫn nghĩ nhiều đến thủy đậu bội nhiễm da vì nốt đậu đa số chứa dịch đục, mọc trên viền hồng ban 3mm đồng thời khi thăm khám thấy bệnh nhân có sốt cao mặc dù sang thương da đã xuất hiện được 4 ngày. Không nghĩ tới tình trạng sốt cao sau khi nhập viện là do nhiễm trùng bệnh viện vì bệnh nhân chỉ mới nhập viên được 24h. Ngoài ra, bệnh nhân than tiểu đau sau khi nhập viện, tuy thăm khám chưa phát hiện bất thường nhưng chưa thể loại trừ biến chứng hoặc một bệnh lí khác kèm theo, nên đề nghị tptnt để đánh giá lâm sàng không thấy các triệu chứng khác ở tim không âm thổi bất thường, không đau ngực không khó thở, phổi không ho, không khó thở, không rale , thần kinh bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, không thất điều, không co giật nên ít nghĩ còn bệnh nhân có biến chứng bệnh nhân này sang thương mọc rải rác khắp ngực, lưng, mặt, phân bố đều không có xư hướng mọc thành nhóm thành chùm, tiền căn chưa có những lần nổi mụn nước tương tự trước đây ngoài ra trên bề mặt da không có những vết loét trợt kèm xuất huyết nên ta ít nghĩa tới nguyên nhân do có sang thương đa dạng, tuy nhiên xu hướng là li tâm chứ không phải hướng tâm đồng thơi các bóng nước chắc, không cảm giác đau đồng thời trong khoảng thời gian gần đây bệnh nhân không sử dụng thuốc nên ta có thể loại trừ nguyên nhân do di ứng nhân có triêu chứng tiểu đau tuy nhiên nước tiểu vàng trong đồng thời thăm khám không thấy hội chứng kích thích bàng quang nên nghĩ nhiều nhiễm trùng tiểu gây hẹp niệu đạo, xuất hiện sau khi nhập viện nên nghĩ đến đây là biến chứng của thủy đậu, tuy nhiên chưa loại trừ đây là 1 bệnh lí kèm LÂM SÀNGCận lâm sàng đề nghịTổng phân tích tế bào máuTổng phân tích nước tiểuBUN, CreatinineCận lâm sàng hiện cóCông thức máuRBC 1012/LWBC 109/LHGB g/dLNEU %Hct %MCV fLBASO %MCH fLMONO %MCHC g/LLympho %PLT 147 109/L Tổng phân tích nước tiểupH 5Eryth 50Leu 25Cặn lắng Hồng cầu 2+Bạch cầu 1+BIỆN LUẬN CẬN LÂM SÀNGTổng phân tích nước tiểu thấy hồng cầu Nhiễm trùng tiểu nghĩ nhiều do nốt đậu mọc ở đường tiết niệu gây ra tình trạng tiểu máu vi thể, tuy nhiên để loại trừ 1 số bệnh lí khác à đề nghị làm thêm siêu ĐOÁN HIỆN TẠI Thuỷ đậu N5 bội nhiễm da/ Nhiễm trùng tiểuHƯỚNG ĐIỀU TRỊKháng sinh điều trị bội nhiễm, nhiễm trùng tiểuThuốc diệt virus AcyclovirBôi ngoài da chống nhiễm trùng Blue methylenĐiều trị triêu chứng kháng Histamin, hạ sốtTIÊN LƯỢNG – DỰ PHÒNGTiên lượng tốtBN sinh hiệu ổn nhưng cần tránh gãi các mụn nước gây nhiễm trùng, khả năng hồi phục tốtDự phòng Giáo dục tuyên truyền ý thức về bệnh thủy đậuCách ly bệnh nhân cho đến khi nốt đậu đóng màyTuân thủ điều trị, giữ vệ sinh da để phòng ngừa biến chứng khác PLO- Hiện bệnh than vẫn là bệnh lưu hành trên đàn gia súc và trên người ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. Gần đây tôi có đọc các thông Việt Nam lại xuất hiện bệnh than. Vậy bệnh than nguy hiểm đến đâu, dấu hiệu nhận biết căn bệnh này và cách phòng tránh thế nào? Nguyễn Thị An, Trả lời Theo Bộ Y tế, bệnh than thuộc nhóm B trong luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm. Bệnh than là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính thường làm tổn thương da, hiếm gây tổn thương mồm - họng, đường hô hấp dưới, trung thất hoặc bộ máy tiêu hóa. Ở thể da, chỗ da bị nhiễm trùng xuất hiện ngứa đầu tiên, sau đó dẫn đến tổn thương, nổi sần, mụn nước và từ 2 đến 4 ngày sau phát triển thành nốt loét màu đen. Quanh chỗ loét thường có phù mức độ từ nhẹ đến nặng và lan rất rộng, đôi khi có mụn nước nhỏ thứ phát. Nốt loét thường không đau, nếu có đau là do phù hoặc bội nhiễm. Đầu, cánh tay và bàn tay là nơi hay bị tổn thương nhất. Nốt loét có thể bị nhầm lẫn với viêm da. Nơi nhiễm khuẩn không được điều trị có thể lan tới các hạch bạch huyết vùng rồi vào máu gây nhiễm trùng huy. Bệnh than lây truyền qua da là do tiếp xúc với các mô của động vật gia súc, cừu, dê, ngựa, lợn và các súc vật khác chết vì mắc bệnh than; nhiễm qua lông, da, xương hoặc các sản phẩm làm từ những nguyên liệu trên như trống, bàn chải… Bệnh than cũng lây truyền qua đất bị nhiễm khuẩn từ các động vật mắc bệnh chết và tổn thương não. Để phòng tránh bệnh than, Bộ Y tế khuyến cáo người dân không giết mổ, không sử dụng thực phẩm từ trâu, bò, ngựa ốm chết, không rõ nguồn gốc. Bệnh than hiện vẫn là bệnh lưu hành trên đàn gia súc và trên người ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam bao gồm Điện Biên, Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng, Thái Nguyên, Hà Giang. Thuốc dị ứng uống cùng lúc với thuốc tránh thai có sao không? PLO- Các loại thuốc chống dị ứng thế hệ mới nói chung rất an toàn, chưa có báo cáo ghi nhận tương tác với thuốc tránh thai. T. HƯƠNG tổng hợp 1. Bệnh thủy đậu là gì? Thủy đậu là một loại bệnh truyền nhiễm ở da do virus Varicella Zoster VZV gây ra. Biểu hiện ban đầu của bệnh thủy đậu là nổi các mụn nước trên da và niêm mạc, cơ thể sốt cao, suy nhược, mệt mỏi. Bệnh có tốc độ lây lan khá nhanh, truyền nhiễm trực tiếp từ người sang người và có thể bùng phát thành dịch nếu không được kiểm soát kịp thời. Thủy đậu là một bệnh truyền nhiễm cấp tính với biểu hiện là các mụn rộp nước trên da Bệnh thủy đậu có thể khỏi hoàn toàn sau 1 – 2 tuần nếu được điều trị và chăm sóc chu đáo. Tuy nhiên, nếu không điều trị kịp thời và đúng cách, bệnh gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm não, viêm màng não, viêm phổi. Những người đã từng bị thủy đậu rất hiếm khi tái phát bệnh bởi sau khi mắc bệnh, cơ thể sẽ tự tạo miễn dịch với bệnh. Nhưng virus Varicella Zoster VZV sẽ xâm nhập, tồn tại ở hệ thống rễ dây thần kinh và tái hoạt động gây bệnh zona khi hệ miễn dịch suy yếu. 2. Nguyên nhân gây bệnh Virus Varicella Zoster là “thủ phạm” gây ra bệnh thủy đậu, lây lan chủ yếu qua đường hô hấp. Vì vậy đa số các trường hợp mắc bệnh đều do tiếp xúc với người bị thủy đậu thông qua không khí như hít phải nước bọt khi người bị thủy đậu ho, hắt xì hay tiếp xúc với chất dịch bên trong mụn nước. Ngoài ra, việc sử dụng chung các vật dụng cá nhân như khăn mặt, bàn chải đánh răng, quần áo hay ăn uống với người bị thủy đậu cũng là một trong những nguyên nhân lây truyền bệnh. Virus Varicella Zoster gây bệnh thủy đậu Bệnh thủy đậu có thể lây nhiễm trong vòng 1-2 ngày trước khi xuất hiện ban đỏ cho đến khi các mụn nước khô lại và bong tróc vảy. 3. Dấu hiệu nhận biết qua từng giai đoạn Bệnh thủy đậu gồm có 4 giai đoạn với các biểu hiện nhận biết cụ thể như sau - Thời gian ủ bệnh từ lúc nhiễm virus đến phát bệnh Giai đoạn này kéo dài khoảng 10 – 20 ngày, người bệnh không xuất hiện các biểu hiện lâm sàng cụ thể nào, rất khó nhận biết. - Thời kì khởi phát Người bệnh bắt đầu sốt nhẹ, mệt mỏi, nhức đầu và phát ban đỏ có đường kính vài milimet từ 24 – 48 giờ. Một số trường hợp có thể bị viêm họng và nổi hạch sau tai. Các dấu hiệu nhận biết của bệnh thủy đậu ở giai đoạn này rất dễ nhầm lẫn với cảm cúm thông thường. Vì vậy, bạn nên thăm khám càng sớm càng tốt, nhất là trong mùa dịch khi cơ thể có những dấu hiệu này để xác định chính xác nguyên nhân và có cách chăm sóc, điều trị phù hợp. Ở giai đoạn khởi phát, người bệnh bắt đầu nổi ban đỏ, sốt cao và mệt mỏi - Thời kì toàn phát Người bệnh sốt cao, đau đầu, đau cơ, chán ăn, nôn ói. Ban đỏ chuyển thành mụn nước hình tròn, đường kính 1-3mm, chứa chất dịch bên trong. Mụn nước xuất hiện ở toàn thân, nhất là trên tay, chân, lưng, mặt, vùng niêm mạc miệng gây nhiều khó chịu. Trường hợp bệnh tiến triển nặng như nhiễm vi trùng, mụn nước sẽ có kích thước lớn hơn, có màu đục bên trong do chứa mủ. - Thời kì hồi phục Sau 7 – 10 ngày phát bệnh, nếu không có biến chứng hay nhiễm trùng, các mụn nước sẽ vỡ ra, khô lại, bong vảy và dần hồi phục. Thời gian phục hồi kéo dài từ 3 – 4 ngày, vị trí da bị nổi mụn nước sau khi bong vảy sẽ bị thâm sạm. Vì vậy, ở giai đoạn này, người bệnh có thể sử dụng một số loại thuốc bôi ngoài da để hạn chế để lại sẹo thâm, sẹo rỗ trên da. Ở giai đoạn hồi phục các mụn nước bắt đầu khô lại 4. Biến chứng nguy hiểm của bệnh Tuy là căn bệnh lành tính nhưng thủy đậu vẫn có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, thậm chí ảnh hưởng đến tính mạng nếu không điều trị kịp thời. Những biến chứng thường gặp của bệnh thủy đậu gồm Nhiễm trùng, bội nhiễm thứ phát tại các nốt mụn nước, thủy đậu xuất huyết bên trong Đây là hiện tượng thường gặp ở trẻ nhỏ do mụn nước bị vỡ, trầy xước, bong tróc dẫn đến nhiễm trùng, tạo mủ, lở loét. Những nốt mụn này về sau sẽ để lại sẹo sâu khó trị khỏi. Viêm não, viêm màng não Biến chứng xuất hiện ở cả người lớn và trẻ nhỏ, xuất hiện sau khi nổi bong bóng nước 1 tuần. Tuy nhiên, tỷ lệ mắc biến chứng này ở người lớn thường cao hơn. Biến chứng có thể gây tử vong nếu không điều trị kịp thời, đi kèm với các dấu hiệu nhận biết như sốt cao, co giật, người hôn mê, rối loạn tri giác, rung giật nhãn cầu. Viêm phổi thủy đậu Thường xảy ra ở người lớn, ở ngày thứ 3 – 5 của bệnh với các biểu hiện như ho nhiều, ho ra máu, đau tức vùng ngực, khó thở. Viêm cầu thận cấp Bệnh thủy đậu diễn tiến nặng sẽ ảnh hưởng đến thận, gây viêm thận, viêm cầu thận cấp với các dấu hiệu như tiểu ra máu, suy thận. Viêm gan Biến chứng này hiếm xảy ra và không có biểu hiện bệnh rõ ràng. Những biểu hiện thường gặp chỉ là khó tiêu, buồn nôn, hệ miễn dịch suy giảm. Biến chứng thủy đậu khi mang thai Thủy đậu chu sinh Thai phụ bị thủy đậu 5 ngày trước khi sinh hoặc 2 ngày sau sinh gây nhiều ảnh hưởng nguy hiểm đến thai nhi. Cụ thể, thai nhi có thể bị nhiễm thủy đậu từ mẹ, khuyết tật, tử vong. Xem thêm Các loại vắc xin phụ nữ cần tiêm phòng trước khi mang thai Viêm tai ngoài, tai giữa Người bệnh thủy đậu có thể bị viêm tai trong trường hợp mụn thủy đậu mọc trong tai gây viêm loét, lở ngứa. Bệnh zona thần kinh Sau khi khỏi bệnh, virus Varicella Zoster VZV vẫn tồn tại ở rễ dây thần kinh. Khi hệ thần kinh suy yếu, virus tái hoạt động và gây bệnh zona thần kinh. Hội chứng Guillain-Barré hay chứng liệt Landry Là bệnh hiếm gặp liên quan đến hệ thần kinh ngoại biên. Bệnh do hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công vào các dây thần kinh, khiến tứ chi tê yếu, liệt dần rồi lan sang toàn thân. Hiện, chưa xác định được nguyên nhân gây bệnh nhưng hội chứng Guillain-Barré thường xảy ra khi người bệnh mắc một căn bệnh truyền nhiễm trước đó. Viêm thanh quản Người bệnh thủy đậu có thể bị viêm thanh quản trong trường hợp mụn thủy đậu mọc trong trong khoang miệng hay niêm mạc miệng gây nhiễm trùng, sưng tấy. Viêm võng mạc Virus VZV xâm nhập vào giác mạc sẽ tổn thương đến mắt, thậm chí dẫn đến bệnh viêm võng mạc. Hội chứng Reye Người mắc bệnh thủy đậu trong quá trình điều trị có sử dụng Aspirin sẽ mắc phải Hội chứng Reye - căn bệnh liên quan đến não và thoái hóa mỡ gan. Các biểu hiện thường gặp của biến chứng này như hôn mê, co giật, vàng da, gan phình to, não bị phù, xuất huyết nội tạng. 5. Cách điều trị bệnh thủy đậu hiệu quả Bệnh thủy đậu hiện chưa có thuốc đặc trị, song người bệnh có thể tự điều trị tại nhà bằng cách tuân thủ theo sự chỉ định, hướng dẫn của Bác sĩ. Riêng một số trường hợp có dấu hiệu viêm nhiễm ở các mụn nước cần được điều trị nội trụ tại bệnh viện để theo dõi và có cách xử lý phù hợp. Để điều trị bệnh thủy đậu nhanh khỏi, không để lại sẹo, người bệnh cần kết hợp chăm sóc tại nhà và điều trị thuốc như sau Chăm sóc tại nhà Người bị thủy đậu cần hạn chế tiếp xúc với nhiều người cũng như tránh đến các khu vực công cộng. Nên lựa chọn quần áo rộng, nhẹ và mỏng, thấm hút mồ hôi tốt để tránh làm bong vỡ các mụn nước. Ngoài ra, người bệnh cũng nên tránh ra gió vì lúc này cơ thể rất dễ nhiễm lạnh, khiến bệnh trở nên trầm trọng hơn. Trường hợp bắt buột phải ra ngoài, bạn nên lựa chọn các trang phục kín đáo để tránh gió. Sử dụng đồ dùng cá nhân như khăn mặt, ly, chén, muỗng, đũa riêng, nghỉ ngơi ở nơi thoáng mát, sạch sẽ, kín gió, cách ly với người chưa nhiễm bệnh. Thời gian cách ly từ 7 – 10 ngày tính từ ngày phát ban. Nên cho trẻ bị thủy đậu nghỉ ngơi ở nơi thoáng mát Tuyệt đối không được gãi để tránh làm vỡ các mụn nước và dây phần dịch mủ ra các vùng da xung quanh. Trong thời gian dưỡng bệnh, nên giữ gìn vệ sinh thân thể bằng cách sử dụng các dung dịch sát khuẩn hoặc nước ấm để tắm rửa. Không sử dụng xà phòng hoặc cọ xát da. Ngoài ra, bạn cũng nên cắt móng tay và giữ tay sạch sẽ. Nếu người bị bệnh thủy đậu là trẻ nhỏ, bố mẹ nên sử dụng các bao tay vải cho bé để tránh tổn thương đến các mụn nước. Nếu người bệnh xuất hiện các biểu hiện bất thường như sốt cao kéo dài, co giật, hôn mê, xuất huyết cần đưa ngay đến bệnh viện để theo dõi và điều trị. Điều trị bằng thuốc Đối với các nốt đỏ trên cơ thể, bạn có thể sử dụng dung dịch thuốc tím bôi lên các nốt mụn để kháng viêm, ngăn ngừa hình thành sẹo về sau. Khi mụn nước vỡ, bạn nên dùng dung dịch xanh Methylen bôi lên. Lưu ý, tuyệt đối không sử dụng vôi mỡ Tetaxiclin, mỡ Penixilin, thuốc đỏ. Khi nốt mụn đóng vảy, người bệnh có thể sử dụng kem trị dị ứng, các loại thuốc bôi trị ngứa. Trường hợp, trẻ em dưới 6 tháng tuổi, phụ nữ mang thai tuyệt đối không được sử dụng kem trị ngứa có chứa Phenol. Sử dụng dung dịch xanh Methylen bôi lên các mụn nước bị vỡ Ngoài ra, bạn nên sử dụng Chloramphenicol 0,4% hoặc Acgyrol 1% nhỏ mắt ngày 2 – 3 lần để sát khuẩn cho mắt, mũi. Nếu người bệnh sốt cao có thể sử dụng các loại thuốc hạ sốt thông thường nhưng cần phải tuân theo sự chỉ định của bác sĩ. Lưu ý, không dùng thuốc Aspirin hay các sản phẩm có chứa thành phần Aspirin để hạ sốt. Để giúp Quý khách hàng an tâm chăm sóc sức khỏe trong giai đoạn giãn cách xã hội vì dịch bệnh COVID-19, CarePlus triển khai Chương trình KHÁM TƯ VẤN TỪ XA với đội ngũ bác sĩ ở các chuyên khoa Tim mạch, Nhi khoa, Sản Phụ khoa, Tai Mũi Họng, Da liễu,.... Đăng ký TẠI ĐÂY 6. Người bị thủy đậu nên và không nên ăn gì? Nên ăn Bổ sung nhiều rau xanh, trái cây giàu vitamin và khoáng chất trong các bữa ăn hàng ngày. Đặc biệt, các loại rau củ quả dồi dào vitamin A, vitamin C, bio-flavonoid như cà rốt, dưa chuột, bông cải... Thực phẩm giàu kẽm, magie, canxi như ngũ cốc nguyên hạt, mầm lúa mì, rau chân vịt, nấm, các loại hạt, yến mạch, hạt bí ngô, socola đen... Nên ăn các món ăn thanh đạm, thức ăn dạng lỏng, mềm dễ tiêu hóa như cháo, soup cháo đậu xanh, cháo gạo lứt, cháo tiểu mạch, cháo củ năng... Uống đủ nước mỗi ngày. Nên bổ sung thêm các loại nước ép trái cây để tăng cường hệ miễn dịch cơ thể. Kiêng ăn Các thực phẩm nhiều dầu mỡ, cay nóng như ớt, gừng, tiêu, mù tạt, tỏi, hành tây... hoặc quá mặn gây nhiệt miệng, đau họng. Các thực phẩm chứa chất béo bão hòa như thịt, sản phẩm từ sữa như bơ, phô mai, yogurt có thể sưng viêm và khiến mụn đỏ xuất hiện lâu hơn. Các loại thịt có tính ấm, nóng như thịt gà, thịt chó có thể tăng nguy cơ bội nhiễm. Hải sản chứa nhiều histamine gây dị ứng, ngứa. Cam, chanh, cà phê, socola là những thực phẩm giàu axit, gây sưng tấy, tổn thương ở vùng da nổi mụn nước. Các món ăn từ nếp như xôi, bánh chưng... Thực phẩm có hàm lượng arginine cao như đậu phộng, các loại hạt, nho khô... Nhục quế là thực phẩm kỵ nhất khi bị bệnh thủy đậu, bởi nhục quế có tính đại nhiệt, ôn nhiệt trợ hỏa, tổn hại âm chất, dễ khiến bệnh trầm trọng hơn. Người bị thủy đậu nên kiêng cử các món ăn nhiều dầu mỡ 7. Cách phòng tránh lây nhiễm thủy đậu khi bệnh vào mùa Hiện nay, chủng ngừa vaccine thủy đậu là cách phòng tránh lây nhiễm bệnh hiệu quả và lâu dài. Đối với trẻ em, việc tiêm ngừa thủy đậu càng quan trọng và cần thiết. Vì vậy, với những gia đình có con nhỏ, cần đưa trẻ đi tiêm ngừa theo lịch tiêm như sau Mũi 1 Tiêm khi trẻ trên 12 tháng. Mũi 2 + 1-13 tuổi cách mũi 1 ít nhất 3 tháng. + Từ 13 tuổi trở lên cách mũi 1 ít nhất 1 tháng. Nếu tiếp xúc với người mắc thủy đậu mà chưa tiêm ngừa vaccine bạn cần chủng ngừa trong vòng 3 ngày sau đó. Tuyệt đối không sử dụng chung đồ dùng cá nhân, chạm vào các mụn nước của bệnh nhân. Người bệnh cần được cách ly với những thành viên khác trong gia đình cũng như cộng đồng. Phòng ở của người bệnh cũng phải thường xuyên vệ sinh bằng các dung dịch tẩy rửa. Chủng ngừa vaccine thủy đậu là cách phòng bệnh hiệu quả nhất Thủy đậu là bệnh ngoài da dễ mắc phải, có nhiều ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt và công việc. Hiện nay chưa có thuốc đặc trị thủy đậu, vì vậy để phòng bệnh thủy đậu, bạn nên chủng ngừa vaccine thủy đậu đúng liều lượng. Bên cạnh đó, bạn cần thăm khám khi có các triệu chứng bất thường để điều trị kịp thời và ngăn ngừa các biến chứng nguy hiểm. Tại TP. HCM, ngoài các bệnh viện lớn, các phòng khám quốc tế cũng là một trong những địa chỉ được nhiều người lựa chọn thăm khám, điều trị bệnh thủy đậu. Trong đó có thể kể đến Hệ thống Phòng khám Quốc tế CarePlus. Ưu điểm khi thăm khám bệnh tại CarePlus Hệ thống phòng khám đạt tiêu chuẩn quốc tế, được đầu tư 100% vốn nước ngoài. Ứng dụng công nghệ y học tiên tiến đến từ Châu Âu cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh chất lượng cao với mức giá phải chăng nhất. Đội ngũ Bác sĩ giàu kinh nghiệm. Bác sĩ thăm khám chuyên nghiệp, tập trung tư vấn cặn kẽ các câu hỏi của người bệnh và giải thích rõ ràng phương pháp điều trị phù hợp. Sau khi thăm khám và điều trị, CarePlus sẽ tiếp tục theo dõi và hỏi thăm tình trạng của bệnh nhân để có những hỗ trợ nhanh chóng và kịp thời. Hạn chế sử dụng kháng sinh nhằm ngăn ngừa các biến chứng do kháng sinh gây ra. Hệ thống phòng khám - Phòng khám Tân Bình 107 Tân Hải, Q. Tân Bình, Thứ 2 - Thứ 6 800 - 2000 Thứ 7 800 - 1700 Điện thoại 028 7300 3223 - Phòng khám Quận 7 Lầu 2, Crescent Plaza, 105 Tôn Dật Tiên, P. Tân Phú, TP. HCM Thứ 2 - Thứ 6 800 - 2000 Thứ 7 800 - 1700 Điện thoại 028 7308 0088

cách làm bệnh án thủy đậu